• Thứ Năm, 04/03/2010 (GMT+7)

    IBM Pulse 2010: Điều khiển thông minh

    Hội nghị quốc tế IBM Pulse 2010 đã trình diễn việc người chế tạo máy tính có thể mở rộng phạm vi điều khiển CNTT như thế nào.

    Hiện tại, việc phát triển các thương hiệu của IBM đều chịu sự chi phối của khuynh hướng toàn cầu - Làm cho Hành tinh thông minh (Smarter Planet). Các dòng sản phẩm IBM Tivoli vốn dùng để điều khiển hạ tầng CNTT và các dịch vụ nay sẽ giúp hành tinh thông minh hơn một cách hiệu quả hơn nhiều so với các sản phẩm khác. Đó chính là chủ đề của hội nghị quốc tế IBM Pulse 2010 diễn ra cuối tháng 2/2010 tại Las Vegas (Mỹ), thu hút hơn 5.000 người tham dự, theo số liệu của Ban tổ chức.

    Hành tinh thông minh gồm những thành phố trọn vẹn và những nhà máy riêng rẽ, trong đó có khối lượng lớn các thiết bị và hệ thống thông minh liên kết, duy trì những dòng chảy thông tin cực lớn. Sự đầy đủ về mặt công nghệ và tính thông minh của các hạ tầng hiện đại là tiền đề cho cuộc sống và công việc tiện nghi và hiệu quả hơn. Chúng cũng đòi hỏi không thể thiếu sự điều khiển đáng tin cậy. Nhiệm vụ của việc điều khiển đó của IBM đang đặt lên khối đảm bảo phần mềm, tập trung vào dòng Tivoli. Hiện tại, phạm vi của Tivoli không chỉ là CNTT mà đã đi về điều khiển hạ tầng tổng hợp thống nhất các nguồn lực kỹ thuật số và vật lý, điều khiển các dịch vụ trên những nền tảng đó…

    Những khả năng của Tivoli trong tổ hợp với hàng loạt sản phẩm khác của IBM rất lớn. Từ những thiết bị điều khiển hệ thống đảm bảo giám sát, kiểm tra và tự động hoá các hệ thống CNTT truyền thống, tới các thiết bị vật lý khác nhau khi hội tụ sẽ cho phép xây dựng những toà nhà thông minh, các hệ thống kinh tế đô thị hiệu quả, các cơ sở y tế kiểu mới và nhiều thứ khác… Những dịch vụ mà các tổ chức nhận được từ bộ phận CNTT hay việc điều khiển các dịch vụ đó bởi các đối thủ của sản phẩm Tivoli trên thị trường đều được IBM coi chỉ như tập hợp con của khái niệm dịch vụ toàn cầu mà con người có thể nhận được từ các xí nghiệp, tổ chức, cơ sở kinh tế đô thị. IBM Tivoli dường như sẽ điều khiển các dịch vụ đó hiệu quả hơn cả nên IBM muốn nhấn mạnh giải pháp đặc sắc của nó.

    Theo ông Al Zollar, Tổng Giám đốc điều hành IBM Tivoli, 5 năm qua, Công ty đã đầu tư phát triển công nghệ ISM hơn 6 tỷ đô la Mỹ (6 tỷ USD), trong đó có chi cho việc tự gia công phần mềm cũng mua lại các công ty. Việc mua Công ty Maximo vài năm trước đóng vai trò then chốt để hình thành ISM. Maximo đóng góp cho IBM những công cụ rất tiến bộ để điều khiển các nguồn lực ra ngoài CNTT. Tại hội nghị, ông Zollar cũng nhắc lại việc mua Công ty Intelliden mới đây. Intelliden chuyên về công cụ điều khiển mạng lưới thông minh.

    Nhìn chung thì ISM của IBM bao gồm:

    Công cụ để tổ chức điều khiển các dịch vụ trong những ngành xác định;
    Công cụ điều khiển chuỗi dịch vụ sống động, từ việc phát triển đến khai thác chúng đều được đảm bảo bởi sự tích hợp các sản phẩm Tivoli với các giải pháp của dòng IBM Rational;
    Các panel công cụ để giám sát các chi tiết công nghệ đảm bảo hiện thực hoá dịch vụ trên mọi tầng nấc;
    Thiết bị điều khiển hợp nhất các nhu cầu và phục vụ;
    Điều khiển các nguồn lực;
    Tự động điều khiển các công việc tính toán tại các trung tâm dữ liệu.

    Những toà nhà thông minh

    Theo ông Alan Ganek, Phó chủ tịch phụ trách chiến lược và công nghệ của IBM Software Group, trong “Bộ tứ” nhà sản xuất phần mềm điều khiển CNTT lớn nhất gồm BMC, CA, HP và IBM, hiện nay chỉ có một mình IBM có đầy đủ công cụ điều khiển các nguồn lực doanh nghiệp được tích hợp với công cụ điều khiển CNTT truyền thống, nhờ đó mà Công ty có khả năng hiện thực hoá chiến lược điều khiển các hạ tầng phức tạp đặc trưng bởi sự hội tụ của các tài sản vật lý và kỹ thuật số.

    Tại IBM Pulse 2010, người ta đã giới thiệu vài khả năng ứng dụng tích hợp điều khiển dịch vụ của IBM, trong đó đầy đủ nhất phải kể tới mạng điều khiển thành phố Chesapeach, tiểu bang Virginia. Ở đó, trên cơ sở các giải pháp IBM Maximo, người ta xây dựng các hệ thống giám sát và kiểm tra các công trình công cộng, tổ hợp công viên cây xanh và vùng nghỉ dưỡng, cảnh sát và cứu hoả cũng như hàng loạt công trình đô thị khác. Trong đó, trên cơ sở các phần mềm của IBM, một hình dung duy nhất về trạng thái của thành phố được đảm bảo với những khả năng tập hợp và phân tích dữ liệu về các sự kiện đang diễn ra, giúp nhanh chóng ra các quyết định cũng như gia tăng hiệu quả điều hành đô thị. IBM và chính quyền thành phố Chesapeach đã có kế hoạch mở rộng hợp tác, trong đó có việc ứng dụng công nghệ của Công ty vào điều hành giao thông và cung cấp nước sạch.

    Chesapeach hoàn toàn có thể làm hình mẫu cho cái gọi là thành phố thông minh. IBM đang nỗ lực hiện thực hoá cái gọi là các toà nhà thông minh, giới thiệu các công cụ điều khiển và phân tích để kiểm tra hạ tầng các công trình phức tạp riêng rẽ bao gồm các toà nhà văn phòng, các xí nghiệp và nhà máy, phòng thí nghiệm và các tổ hợp toà nhà đại học, khách sạn.

    Tại hội nghị, Khách sạn lớn nhất của Las Vegas là Venetian đã giới thiệu giải pháp tự động điều khiển hạ tầng khách sạn nhờ giải pháp IBM. Đó là các công việc đặt và giao phòng cho khách, điều hành casino, các cửa hiệu cũng như trung tâm hội nghị khổng lồ. Công ty IBM đã hợp tác với Phòng thí nghiệm quốc gia Galveston - phòng thí nghiệm sinh học Mỹ với mức độ bảo vệ sinh học cao nhất. Tại đây, nhờ IBM Maximo, người ta đã hiện thực hoá việc đếm và giám sát tất cả thiết bị sẽ qua vệ sinh dịch tễ và sửa chữa cũng như dự báo chất lượng vận hành. IBM cũng cùng Công ty Johnson Controls hoạch định việc ra mắt giải pháp Smart Building Solution - giải pháp toà nhà thông minh - thống nhất công nghệ và dịch vụ điều khiển cung cấp điện và hạ tầng sinh thái Johnson Controls với công cụ phần mềm IBM Maximo. Ngoài ra, IBM đã thông báo thu thập các công nghệ lập trình và dịch vụ của Property Portfolio Management để điều khiển tổ hợp các toà nhà.

    Điều khiển thông minh các toà nhà và thậm chí cả các thành phố dĩ nhiên đòi hỏi đầu tư rất lớn. Tuy nhiên, ở IBM, người ta tin là cuối cùng thì việc hiện thực hoá quan điểm hành tinh thông minh không chỉ đảm bảo cho các đô thị có kinh tế sinh thái mà còn tiết kiệm đáng kể các chi phí cho thành phố đó. Ví dụ, vấn đề giao thông đô thị đúng nguyên lý thì chi phí càng lớn, hiệu quả của chức năng này càng giảm, nhưng trên thực tế, các hệ thống tự động dẫn đường và phân tích dự báo để tính toán các dòng xe cộ cũng như các giải pháp phân bổ thông minh nguồn điện năng và khả năng xây dựng toà nhà hay thành phố thông minh khác đều có thể mang lại sự tiết giảm đáng kể các nguồn lực duy trì đô thị.

    Trung tâm đầu não của hành tinh thông minh

    Nếu ISM ở IBM được xác định như hệ điều hành hành tinh thông minh thì các cơ sở tích hợp điều khiển dịch vụ có “bộ não” chính là các thành phần CNTT như trung tâm dữ liệu thế hệ mới được ảo hoá hết thảy bao gồm máy chủ, hệ thống lưu trữ và hạ tầng mạng… Tại hội nghị, người ta lưu ý nhiều đến chiến lược ảo hoá của IBM. Chiến lược này tuyên bố tính trung lập của Tivoli trong quan hệ với các nền tảng ảo hoá, hỗ trợ các kiến trúc x86 bao gồm các công cụ của VMware, Microsoft Hyper-V, Xen và KVM. Ngoài ra, IBM còn sử dụng giải pháp phần mềm ảo hoá trên các nền tảng Power và System z của mình.

    Theo bà Inna Kuznhetsova, Phó Chủ tịch tiếp thị và bán hàng của thương hiệu mới Systems Software mới thành lập trong Bộ phận IBM Systems Technology Group, triết lý của IBM nằm ở chỗ: Để ngăn chặn việc Công ty có thể chọn hệ điều hành phù hợp hơn cả cho mỗi loại hình tính toán như Windows, IBM AIX hay Linux... Để làm điều đó, IBM thực hiện một dạng điều khiển chéo duy nhất với môi trường ảo hoá nhờ tích hợp các sản phẩm Tivoli với các phần mềm hệ thống Systems Director của mình. Systems Director chịu trách nhiệm điều khiển ảo hoá trên các máy chủ IBM. Tại hội nghị, IBM cũng giới thiệu sản phẩm mới Tivoli Provisioning Manager for Images là giao diện duy nhất để điều khiển cả tập hợp các mẫu máy chủ và ứng dụng vật lý và ảo hoá. Ảo hoá được IBM xem như cơ sở của hạ tầng điện toán mây, nhưng đáng ngạc nhiên là đề tài này lại không hề được đả động tới tại Pulse 2010. Công ty nói là… “để sau”.

    Nguyễn Như Dũng (theo Natalya Dubova, “Open Systems”, IDG, 3/3/2010).

    ID: O1003_1