• Thứ Hai, 12/04/2010 10:00 (GMT+7)

    “Không dây” khó đe dọa “có dây”

    Ngọc Khánh
    Ít nhất 10 đến 20 năm nữa, dù công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba (3G) tại Việt Nam có phát triển thì cũng khó đe dọa sự tăng trưởng của kết nối băng rộng có dây tới Internet (ADSL, FTTx)

    “Ít nhất 10 đến 20 năm nữa, dù công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba (3G) tại Việt Nam có phát triển thì cũng khó đe dọa sự tăng trưởng của kết nối băng rộng có dây tới Internet (ADSL, FTTx)” đó là nhận định của 2 nhà cung cấp dịch vụ Internet “có dây” dưới đây:

    Thế Giới Vi Tính B: Một số chuyên gia tin vào thị trường di động dự báo rằng, người dùng ADSL tại Việt Nam sẽ giảm khi 3G phát triển, giống như người dùng đã từng ngưng kết nối dial-up để chuyển sang ADSL trước kia. Theo các ông, xu thế này có diễn ra tại Việt Nam trong thời gian tới không?

    • Ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Thị trường, Công ty Điện toán và Truyền số liệu khu vực miền Nam (VDC2):

    Ông Nguyễn Anh Dũng

    Theo tôi, nhận định rằng 3G sẻ làm giảm kết nối ADSL không hợp lý vì: Việc ra đời của ADSL trước đây làm giảm và ngưng kết nối dial-up là tất yếu bởi ADSL là sự phát triển cao hơn của dial-up, giúp người sử dụng tiết kiệm chi phí, đồng thời truy cập Internet dễ dàng, nhanh chóng hơn. Trong khi đó, 3G phát triển trên nền di động (DĐ) sẽ tác động không nhiều đến ADSL phát triển trên nền cố định, ít nhất là từ 10 đến 20 năm nữa.

    Bằng chứng là mặc dù công nghệ DĐ đã phát triển vượt bậc trong 10 năm trở lại đây, nhưng máy tính để bàn vẫn có chỗ đứng trên thị trường, thậm chí phát triển song hành cùng công nghệ mới và chạy nhanh hơn. Người dùng cá nhân và gia đình hiện vẫn có nhu cầu sử dụng ADSL tại nhà do tính thuận tiện, sẵn có và chi phí thấp. Các công ty, doanh nghiệp (DN), tập đoàn vẫn sử dụng băng rộng cố định khi xây dựng mạng riêng ảo, thực hiện hội thảo truyền hình với chất lượng nhanh và ổn định. Đặc biệt, với các công ty, cơ quan đề cao tính bảo mật thì băng rộng cố định là lựa chọn tối ưu.

    3G chính thức triển khai tại Việt Nam cuối năm 2009. Nói nôm na, 3G như đường cao tốc trong giao thông, hoặc các khách sạn 5 sao, 4 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp… trong du lịch. Việc triển khai 3G ở đâu, vào thời điểm nào, dùng cho ai, mới là vấn đề quan trọng. Khi mô hình 3G còn nhiều hạn chế như tầm phủ sóng bị giới hạn, giá cước, thiết bị đầu cuối cao, chất lượng chưa ổn định… thì vẫn chưa phù hợp với đa số người dùng Việt Nam. Khi 3G thông dụng hơn, việc bùng nổ truy cập dẫn đến hệ thống quá tải, tốc độ truy cập giảm và bảo mật hệ thống sẽ là những khó khăn mà các nhà khai thác mạng 3G phải giải quyết.

    Ở Việt Nam, cơ bản đã triển khai xong mạng viễn thông thế hệ mới (NGN) nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Dịch vụ nội dung lại là lĩnh vực yếu nhất của viễn thông DĐ Việt Nam. Ngoài ra, điểm mạnh của NGN là ứng dụng vào hoạt động của các cơ quan nhà nước và các ngân hàng và ngược lại, ứng dụng cho các hệ thống này tại Việt Nam hiện nay không nhiều.

    Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới dịch vụ FTTH (hệ thống Internet cáp quang) với những ưu điểm về giá cước, tốc độ truy cập.. rất phù hợp cho doanh nghiệp, tổ chức, đại lý có quy mô vừa và nhỏ, đáp ứng yêu cầu của người dùng tại những đô thị phát triển công nghiệp như TP.HCM và các tỉnh miền Đông Nam bộ.

    Với những lý do trên, tôi tin tưởng rằng công nghệ 3G hiện nay sẽ không thể tạo nên kỳ tích bứt phá ngoạn mục tại Việt Nam.

    • Ông Hoàng Mạnh Cường, Phó Tổng giám đốc CMC Telecom:

    Có một số vấn đề mà chúng ta cần chú ý đối với thị trường Internet Việt Nam như sau:

    Ông Hoàng Mạnh Cường

    Thị trường Internet băng rộng tại Việt Nam, trong đó có kết nối ADSL chưa thể nói là đã bão hòa. Kết nối băng rộng mới chỉ đạt lỷ lệ khá thấp (dưới 10% dân số), nên xu hướng sẽ tiếp tục phát triển với tốc độ cao.

    Kết nối băng rộng không dây (như 3G) không thể thay thế hoàn toàn kết nối băng rộng có dây (ADSL hay FTTx), vì kết nối băng rộng có dây đảm bảo tính ổn định và tốc độ cao hơn rất nhiều so với không dây. Nếu với kết nối có dây, khả năng kỹ thuật cho phép người dùng kết nối đến hàng Gbps (FTTx), thì không dây chỉ dừng ở khả năng tốc độ vài Mbps. Ngoài ra, kết nối không dây còn phụ thuộc nhiều yếu tố ngoại cảnh như: thời tiết, khoảng cách người dùng đến BTS gần nhất, các vật cản giữa BTS và người dùng… nên tính ổn định không thể đảm bảo bằng kết nối có dây.

    Do vậy, theo tôi kết nối băng rộng có dây, trong đó có ADSL, không những không giảm mà tăng trưởng mạnh trong các năm tới.

    Các nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet “có dây” sẽ phải liên kết hay tự bổ sung các dịch vụ giá trị gia tăng gì để thu hút người dùng? Và dịch vụ nào là quan trọng? Vì sao?

    • Ông Hoàng Mạnh Cường: Tương tự 3G, thách thức chung của dịch vụ băng rộng là vấn đề nội dung (content). Nhu cầu liên lạc và truy tìm thông tin cơ bản (email, thoại VoIP, web…) là những yếu tố đầu tiên đưa người sử dụng đến với dịch vụ băng rộng. Nhưng để thu hút người dùng mới và giữ chân người dùng cũ (muốn dùng thêm dịch vụ) thì phát triển nội dung, ứng dụng… rất quan trọng. Vấn đề này đã được đem ra thảo luận tại nhiều hội thảo, vì liên quan đến rất nhiều thành phần: nhà nước (dữ liệu công cộng, dịch vụ công điện tử…), các DN phát triển nội dung (content provider), các DN thương mại điện tử (e-commerce), “nhà mạng”, người dùng cuối… Xu hướng chung, các thành phần này phải cùng liên kết chứ không thể tự làm.

    Theo tôi, dịch vụ VoIP (thoại trên nền băng rộng) giá rẻ và các dịch vụ hội đàm qua mạng sẽ thu hút người dùng trong thời gian tới, đó là các dịch vụ cơ bản và là động lực lớn nhất để hút người dùng.

    • Ông Nguyễn Anh Dũng: Bổ sung dịch vụ để làm gia tăng giá trị sử dụng, mang đến nhiều hơn nữa lợi ích cho khách hàng là điều mà mỗi DN cung cấp dịch vụ Internet cần thực hiện. Cuối năm 2009, VDC/VNPT đã cho ra mắt MegaVNN Plus là tổng thể các dịch vụ giá trị gia tăng, gồm 7 dịch vụ: MegaE-learning - Học tập trực tuyến; MegaE-school- “Sổ liên lạc” giữa gia đình & nhà trường; MegaE-Meeting- Hội nghị truyền hình trực tuyến; MegaSecurity - Dũng sĩ bảo vệ máy tính; MegaWeb - Tự thiết kế website trong 15 phút; MegaShare - Chia sẻ dữ liệu trực tuyến; MegaVstar - Xem phim trực tuyến chất lượng cao. Với 7 dịch vụ này, người dùng Internet hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ, ứng dụng hiệu quả trong công việc và cuộc sống thông qua phương thức “giao tiếp” từ Internet với tốc độ cực nhanh.

    Ngoài ra, với việc bùng nổ CNTT như hiện nay, việc liên kết hợp tác giữa các DN là lựa chọn hợp lý.


    Trong năm 2008 và 2009, tốc độ tăng trưởng kết nối băng rộng có dây giảm so với giai đoạn trước đó (2005 -2007: tăng trưởng liên tục 3 con số) nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng 2 con số, tốc độ cao nhất trong lĩnh vực viễn thông. Báo cáo gần nhất của IDC về thị trường viễn thông Việt Nam dự đoán, giai đoạn 2010 -2012, thị thường kết nối băng rộng cố định (hay có dây) sẽ tiếp tục tăng trưởng cao khoảng gần 40%/năm, cao nhất trong tất cả các loại dịch vụ viễn thông.

    NămSố thuê bao ADSL (đvt: triệu) Tăng trưởng thuê bao (%) Số người sử dụng (tr. Người) Tỷ lệ người dân sử dụng Internet
    20082,1 42%20,620,6%
    20093 43%2326,6%
    Dự kiến 2010 (*)4,1 34%27 30%
    (Nguồn số liệu: www.VNNIC.vn; (*): theo dự báo của VDC2)

    Ngọc Khánh thực hiện

    ID: B1003_68