• Thứ Tư, 16/06/2010 08:16 (GMT+7)

    Nhà trường - doanh nghiệp phối hợp đào tạo: Lợi cả ba bên

    Phí Anh Tuấn
    Làm gì để giảm phàn nàn từ phía doanh nghiệp (DN) khi phải đào tạo bổ sung quá nhiều cho cử nhân mới ra trường? Bài viết này là những cảm nghĩ và kinh nghiệm của tác giả qua quá trình phối hợp giảng dạy với nhà trường.

    Chuẩn bị kỹ cho phối hợp DN - nhà trường

    Để chuẩn bị cho việc phối hợp giảng dạy trong nhà trường với thực tế công việc, chúng tôi chuẩn bị môn “Hệ thống thông tin quản lý DN” gồm hai phần. Phần Lý thuyết: Kiến thức về tổ chức hệ thống thông tin quản lý, các hiểu biết về quy trình nghiệp vụ (business process), các thủ tục xử lý (procedure) trong một quy trình nghiệp vụ; Các vấn đề cần thiết khi tìm hiểu nội dung bài toán từ đó xử lý bằng các giải pháp ERP trong và ngoài nước đang có trên thị trường. Học phần cũng bao gồm các kiến thức cơ bản về việc lựa chọn, đánh giá và triển khai hệ thống thông tin trong DN. Phần Thực hành: sinh viên (SV) thực tập trên phần mềm SAP B1.

    Kết hợp với Khoa CNTT Đại học Văn Lang, chúng tôi tham gia giảng dạy môn “Hệ thống thông tin quản lý DN cho SV năm cuối ngành công nghệ phần mềm. Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi thống nhất nội dung như sau: Có các bài kiểm tra trắc nghiệm, học phần được đánh giá bằng một đề tài và bảo vệ đề tài theo nhóm SV. Đề tài do các nhóm SV tự đề xuất cho giáo viên (GV). Các đề tài khá rộng và đa dạng trao cho từng nhóm 10 SV và được gắn với thực tế như: Tổ chức hệ thống quản trị hậu cần kho hàng, mua hàng, bán hàng cho DN; Quản trị kho trong siêu thị, bán hàng cho DN kinh doanh thiết bị điện tử; Quản trị sản xuất trong ngành lắp ráp ô tô… Trong mỗi đề tài, SV phải có phần đánh giá tình hình và nhu cầu áp dụng CNTT, tìm hiểu quy trình nghiệp vụ chung và đặc thù cho mỗi ngành; Chuẩn hóa và tài liệu hóa các quy trình và đưa ra các vấn đề liên quan đến tổ chức triển khai. Quá trình thực hiện đề tài được SV tự tổ chức với nhóm trưởng do cả nhóm chỉ định.

    GV phải theo sát

    Hàng tuần nội dung công việc được thống nhất với GV và được giao cho từng thành viên trong nhóm có các biểu mẫu đánh giá khối lượng công việc. Nhóm trưởng báo cáo kết quả cho GV 2 lần/tuần và được rà soát vào cuối tuần. GV chỉ là người định hướng và đánh giá chất lượng công việc đã thực thi. Mỗi nhóm tạo một "group" trên Google để chia sẻ và trao đổi thông tin. GV là một thành viên của group nên có thể theo dõi thường xuyên nội dung và tiến trình để hướng dẫn và đánh giá quá trình tham gia của từng SV trong nhóm đề tài.

    Làm việc nhóm lộ ra nhược điểm

    Với khối lượng công việc khá lớn trong 7 tuần làm việc, SV mỗi nhóm đều phải chủ động nỗ lực làm việc cùng nhau để hoàn thành nội dung GV giao. Trong quá trình triển khai, chúng tôi thấy các điểm yếu về kỹ năng làm việc nhóm (teamwork) và kỹ năng mềm (soft skill) của SV bộc lộ khá rõ. Đó có thể là cách hội ý phân công công việc, cách tổ chức hồ sơ tài liệu, phối hợp thời gian trao đổi nhóm. Đó cũng có thể là những điểm rất nhỏ như cách góp ý tranh luận, cách đặt tên tiêu đề mail sao cho dễ phân loại... Với cách này, giai đoạn đầu gần như 100% SV rất lúng túng và mất định hướng. Tuy nhiên sau 2,5 tuần, với sự góp ý, hướng dẫn của GV, các nhóm SV bắt đầu cải thiện đáng kể khối lượng và chất lượng công việc, hào hứng trong thực thi đề tài.

    Việc kiểm tra đánh giá cuối cùng được thực hiện theo dạng bảo vệ. SV trình bày đề tài trên Powerpoint và trả lời vấn đáp với mỗi thành viên của nhóm về đề tài được giao. Việc tổ chức thi cũng giúp SV có kỹ năng trình bày và đảm bảo kiểm soát thời gian. Kết thúc học phần, theo đánh giá của chúng tôi, ngoài kiến thức chuyên môn, SV có hiểu biết nhất định về hiện trạng ứng dụng CNTT hiện tại, tích lũy thêm các kỹ năng khi phải hoàn thành đề tài tương đối khó trong khoảng thời gian hạn chế.

    Từ phương pháp dạy và học trên, chúng tôi có vài vấn đề đúc kết:

    Trước hết, SV phải xác định trách nhiệm học tập. Thời gian qua chúng ta thiên về cách đặt vấn đề “Đặt vị trí người học làm trung tâm” mà ít nói đến trách nhiệm của người học. Việc đặt vấn đề theo cách này làm cho SV ngộ nhận và gán trách nhiệm kết quả đào tạo (chưa tốt) là do nhà trường. Đã đến lúc chúng ta cần tăng cường xác định trách nhiệm từ phía người học. SV cần xác định kỹ năng được tích lũy phải đến từ động cơ và sự rèn luyện của chính họ. Có vậy mới rút ngắn thời gian đi đến thành công của họ trong tương lai.

    Nhà trường - DN thống nhất cách thức đào tạo. Hiện nay nhà trường, các cơ sở đào tạo và GV (là đại diện DN) đã trao đổi, bàn bạc rất nhiều để cải thiện, đề xuất các phương thức đào tạo để thống nhất các nội dung giúp SV tích lũy kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng mềm, có thể kể đến:

    - Một là cần có những bài tập đòi hỏi có số liệu từ thực tế. Trên cơ sở đó yêu cầu các SV phải tìm tòi, đọc và xử lý số liệu từ những tài liệu đọc được. Thực tế cho thấy với yêu cầu này SV hoàn toàn có thể hoàn thành tốt yêu cầu của GV đưa ra.

    - Hai là xác định rõ cho SV hiểu việc kiểm tra và đánh giá cuối học phần không phải là bài toán đánh đố hoặc việc trả bài.

    - Ba là tăng cường sử dụng những công cụ kiểm soát, kiểm tra và đánh giá năng lực nhân viên (KPI Key Performance Indicator ) trong môi trường DN để đánh giá SV. Các chỉ số này cho phép hạn chế việc một đề tài hoặc bài tập làm việc theo nhóm chỉ được một số cá nhân thực thi.

    - Bốn là tổ chức và tăng số lượng đội ngũ GV trợ giảng giúp GV chính hỗ trợ các nhóm SV. Lượng giảng viên trợ giảng sẽ giảm tải cho GV chính trong việc hỗ trợ và kiểm soát chất lượng của các đề tài giao cho SV. Đồng thời, việc này sẽ tích lũy kinh nghiệm cho GV trợ giảng trở thành giảng viên chính. 

    ID: B1005_65