• Thứ Sáu, 18/06/2010 14:39 (GMT+7)

    Vì sao thế giới 'phẳng'?

    Phạm Văn Bảy
    Cuốn "Thế giới phẳng" của nhà báo Thomas L.Friedman ra đời đã lâu (năm 2005) nhưng nay tôi mới đọc và mong muốn chia sẻ với các bạn về việc CNTT nên làm gì và làm thế nào trong thế giới gần như "phẳng" thật này?

    Một nhà báo đi khắp thế giới, không chỉ đến những thành phố có tiếng hay khách sạn sang trọng mà còn đi tới mọi ngõ ngách của thế giới, đến những nơi săn được tin thật. Một công việc dày công, hấp dẫn. Với ẩn dụ rằng thế giới không còn bức tường nào ngăn cản, từ chỗ mọi người gửi một bức thư phải mất cả tuần, cả tháng mới tới tay người nhận, đến nhận được thư chỉ trong một tíc tắc, từ thế giới chìm trong bưng bít thông tin, đến chỗ mọi sự kiện lớn nhỏ đều có thể được thế giới chứng kiến tức khắc. Đó là vì thế giới đã… “phẳng”.

    Cái gì làm thế giới “phẳng”? Cuốn sách cuốn hút tôi - một người gắn bó với ngành CNTT Việt Nam - vì tác giả phân tích về việc tin học, CNTT, truyền thông đã góp phần làm cho thế giới “phẳng”. Là dân CNTT nhưng tôi làm sao biết được những chuyển biến của thế giới ở nhiều ngóc ngách như tác giả người tựa con thoi trên mọi nẻo đường, dệt lại cho ta bức tranh khá toàn diện. Cho nên cuốn sách sẽ còn hấp dẫn trong cả tương lai.

    10 nhân tố đầu tiên làm “phẳng” thế giới trong cuốn sách cho ta thấy rõ ràng sự quan trọng của CNTT:

    1. Windows lên ngôi

    2. Mạng Web xuất hiện

    3. Phần mềm xử lý công việc

    4. Tải lên mạng (up-loading)

    5. Thuê làm bên ngoài (outsourcing)

    6. Chuyển sản xuất ra nước ngoài (offshoring)

    7. Chuỗi cung ứng (supply-chaining)

    8. Thuê bên ngoài làm (insourcing)

    9. Cung cấp thông tin (in-forming)

    10. Các nhân tố xúc tác (tính chất số, di động, cá nhân và ảo).

    Dày 818 trang, cuốn “Thế giới phẳng” của nhà báo Thomas L.Friedman thật công phu và tỉ mỉ. Hơn nữa, nó toàn liên quan đến máy tính, thư điện tử, Internet, Wikipedia… Đấy là một nhãn quan mới về thế giới hiện thực. Đã mới thì phải khác, có khi phải khác nhiều.  

    Mười nhân tố làm “phẳng” này dẫn đến ba sự hội tụ: Thứ nhất, nó đã tạo nên một hình thái hoàn toàn mới: Sân chơi toàn cầu, được mạng web hỗ trợ hay các hình thức hợp tác đa dạng. Hình thái này cho phép các cá nhân, nhóm, công ty và đại học trên khắp thế giới cùng hợp tác vì mục tiêu đổi mới, sản xuất, giáo dục, kinh doanh, nghiên cứu, giải trí và... cả gây chiến nữa! Thứ hai, hành động chỉ huy và điều khiển từ trên xuống nay sẽ là chỉ huy và điều khiển theo chiều ngang (peer to peer) và nó đòi hỏi một hệ thống các kỹ năng hoàn toàn khác biệt. Thứ ba, khi sân chơi được làm “phẳng” thì 3 tỷ người vốn bị đẩy ra rìa sân chơi đột nhiên được giải phóng và liên kết với mọi người trên 1 sân chơi mới với các quy trình mới.

    Đó là 300 trang đầu tiên mà người đọc cảm nhận sự giải thích thế giới “phẳng” là do tác động của CNTT. Mà đây không chỉ giải thích trên lý thuyết chung chung mà rất thực tế từ Bangalore (Ấn Độ), đến Đại Liên (Trung Quốc), hay Thung lũng Silicon (Mỹ)… với hầu như tất cả tên tuổi trong ngành CNTT thế giới như Bill Gates, Berners-Lee, Steve Jobs… Có cơ hội tiếp xúc với những công ty lớn trên thế giới và biết cách làm việc của họ, như Dell lắp ráp máy tính ra sao ở 6 nhà máy trên thế giới, hay Wal-Mart đưa chuỗi hàng hóa vào dữ liệu, hoặc UPS giải quyết việc bảo hành trên thế giới, cả cà-phê Starbucks vừa mới đặt chân vào Việt Nam. Điều cảm nhận được là nhà báo, không hề ngại đề cập đến những khái niệm kỹ thuật, có khi cao siêu, nhưng lại rất thường tình như đi ăn sushi hay thịt băm vậy. Cho nên cuốn sách thật hấp dẫn và ai làm CNTT cũng nên đọc để hiểu CNTT đã thâm nhập vào đời thường thế giới đến thế nào mà một nhà báo lại am hiểu đến phần mềm mở, blog, podcast, VoIP, Skype… đến thế!

    Có gọi tôi là người quảng cáo cho tác giả tôi cũng xin nhận vì đó là một nhà báo được thế giới công nhận và đoạt giải thưởng Pulitzer. Hãy đọc để thấy thế giới ra sao và làm gì đối với CNTT, để biết Đại Liên của Trung Quốc có đến 22 trường đại học, cao đẳng và 2.700 công ty Nhật; để biết Ấn Độ nhập số liệu, làm kế toán và cả gia sư cho người Mỹ ở trên đất Mỹ cùng rất nhiều sự việc trên toàn cầu mà chúng ta chưa biết đến. Tất nhiên, dù là một nhà báo tầm cỡ thế giới thì cũng sẽ có những quan điểm không phải lúc nào cũng phù hợp.

    Để kết thúc, tôi trích 3 đoạn độc đáo và quan trọng nhất của cuốn sách:

    1. “Một ví dụ dân gian châu Phi: Linh dương và sư tử.

    Mỗi sáng ở châu Phi, một con linh dương thức dậy.

    Nó biết rằng nó phải chạy nhanh hơn cả con sư tử nhanh nhất

    Nếu không nó bị giết.

    Mỗi sáng một con sư tử thức dậy

    Nó biết rằng nó phải chạy nhanh hơn con linh dương chậm nhất

    Hoặc nó sẽ bị chết đói.

    Điều quan trọng không phải là việc bạn là sư tử hay linh dương.

    Khi mặt trời mọc, bạn nên bắt đầu chạy”.

    2. “Chúng ta thấy các nhãn hiệu sữa nhấn mạnh đến chỉ số thông minh IQ cho trẻ em. Tất nhiên nó vẫn quan trọng nhưng Friedman cho rằng với thời đại thông tin ngày nay thì chỉ số hiếu học CQ (curiosity quotient) và chỉ số đam mê PQ (passion quotient) còn quan trọng hơn. Và từ đó là một đường lối mới cho học tập và cả làm việc”.

    3. “Về một thành phố lớn: Một quan chức trúng cử tự mình không thể giải quyết các vấn đề của thành phố 8 triệu người. Nhưng 8 triệu người có thể kết nối với nhau để giải quyết vấn đề. Họ có thể phát hiện, cung cấp các giải pháp tốt hơn và nhanh hơn bất kỳ công chức nào”.

    ID: B1005_67