• Chủ Nhật, 23/01/2011 14:04 (GMT+7)

    Điện thoại không dây gây nhiễu mạng 3G

    Lan Uyên
    Gần đây, một số Đài phát thanh, nhiều đài truyền hình trong nước đưa tin về việc điện thoại không dây (ĐTKD) gây nhiễu cho mạng di động 3G, và khuyến cáo người dân không nên sử dụng một số loại ĐTKD của các hãng. Nhiều doanh nghiệp và người đang sử dụng ĐTKD của các hãng này đang hoang mang.

    Chúng tôi đã đem vấn đề này đến trao đổi với ông Nguyễn Văn Thư, giám đốc Trung tâm Tần số Vô tuyến điện khu vực II (TTTSKVII)- Cục Tần số Vô tuyến điện để có thông tin chi tiết.

    Thưa ông, dùng ĐTKD (dạng mẹ- con) có cần giấy phép tần số không?

    Theo quy định tại Thông tư 36/2009/BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) “Quy định về điều kiện kỹ thuật và khai thác đối với thiết bị vô tuyến điện cự ly ngắn được sử dụng có điều kiện” thì thiết bị không phải cấp phép là các thiết bị được hoạt động với một số điều kiện nhất định do Bộ TTTT công bố. Người sử dụng thiết bị này không phải xin cấp giấy phép, không phải nộp phí sử dụng tần số, nhưng phải tuân thủ các điều kiện về tần số và giới hạn phát xạ.

    Chuyên viên Sở TTTT Bình Dương đang sử dụng thiết bị dò tần số ĐTKD DECT có khả năng gây nhiễu cho mạng di động 3G

    Nhiều bạn đọc hiện không biết ĐTKD nào gây nhiễu mạng di động 3G, loại nào không và tại sao gây nhiễu...

    Không phải ĐTKD nào cũng gây nhiễu cho mạng di động công nghệ 3G. Chỉ những ĐTKD sử dụng công nghệ DECT có băng tần hoạt động 1920 ÷ 1930 MHz có khả năng gây can nhiễu có hại cho dải tần hướng lên của mạng 3G tại Việt Nam. Hiện có 5 nhà khai thác đã được cấp phép triển khai mạng 3G, gồm có: MobiFone, Viettel, liên danh EVN và HTC (Vietnamobile), Vinaphone. Mỗi nhà khai thác được ấn định 3 kênh tần số cho hướng xuống (trong dải 2110 ÷ 2170 MHz) và 3 kênh tần số cho hướng lên (trong dải 1920 ÷ 1980 MHz), mỗi kênh có băng thông không vượt quá 5MHz.

    Ông có thể giải thích thêm về công nghệ DECT?

    DECT là viết tắt của Digital Enhanced Cordless Telecommunications, tạm dịch là công nghệ truyền thông không dây số cải tiến, còn được biết đến với tên gọi ĐTKD số của châu Âu (Digital European cordless telephone). Đây là là một tiêu chuẩn dành cho các thiết bị di động, như điện thoại không dây (ĐTKD), để truy nhập vào mạng cố định thông qua môi trường vô tuyến. Việc kết nối đến mạng cố định thông qua máy mẹ (base station) hoặc phần vô tuyến cố định RFP (Radio Fixed Part) với thiết bị đầu cuối vô tuyến và một cổng nối (gateway) kết nối cuộc gọi đến mạng cố định. Máy mẹ chủ yếu được kết nối với mạng điện thoại công cộng PSTN, mặc dù DECT có hỗ trợ các kết nối công nghệ mới hơn như VoIP. ĐTKD theo chuẩn DECT được toàn bộ các nước châu Âu sử dụng. Ngoài ra, nhiều nước Châu Á, Úc và Nam Mỹ cũng sử dụng băng tần này.

    Phổ tần ấn định cho DECT phổ biến nhất thuộc băng 1880 ÷ 1900 MHz. DECT là thành viên duy nhất thuộc họ tiêu chuẩn IMT-2000 sử dụng phổ tần không cần cấp phép. Bên ngoài châu Âu, tùy thuộc theo quy hoạch tần số quốc gia của mỗi nước, có thể ấn định trên các băng 1900 ÷ 1920 MHz và 1910 ÷ 1930 MHz. Ngoài các đoạn băng tần kể trên, một số nước còn dự trữ băng tần 2010 ÷ 2025 MHz.

    Ông cho biết cụ thể hơn thời gian qua những loại ĐTKD nào đã gây nhiễu cho mạng di động 3G?

    Thời gian qua, TTTS KVII cũng đã phát hiện một số thiết bị như: Panasonic (KX-TGA9315, 9331, 9332, 9341T, 9342, 9344), Thompson (28214 KE2-A), Cisco Systems (Linksys CIT400)... hoạt động ở dải tần (1920 – 1930)MHz, đã gây can nhiễu cho hệ thống thông tin di động 3G, ảnh hưởng đến an toàn, an ninh thông tin.

    Ngoài ra một số thiết bị khác như: Panasonic Dect KX-TG8280CXT, Panasonic Dect KX-TG7202BXS/T, Panasonic Dect KX-TG7200BXS/T, Panasonic Expandable Digital Cordless DECT 6.0, AT&T Dect 6.0, V-Tech LS6125-2 DECT 6.0, Uniden Dect 6.0 WXI 2077, Uniden DECT3080-3 Ultra Thin DECT 6.0... không phù hợp với các quy định của Việt Nam về quy hoạch băng tần số (theo Quyết định số 25/2008/QĐ-BTTTT ngày 16/04/2008, về việc phê duyệt quy hoạch băng tần cho các hệ thống thông tin di động tế bào số của Việt Nam trong các dải tần 821-960MHz và 1710-2200MHz của Bộ TTTT); về điều kiện kỹ thuật và khai thác đối với thiết bị vô tuyến điện cự ly ngắn (theo Thông tư số 36/2009/TT-BTTT ngày 3/12/2009 quy định về điều kiện kỹ thuật và khai thác đối với thiết bị vô tuyến điện cự ly ngắn được sử dụng có điều kiện của Bộ TTTT).

    Thiết bị ĐTKD trên vi phạm thì cách xử lý thế nào?

    Việt Nam đã có Luật Tần số Vô tuyến điện; Quy hoạnh phổ tần số vô tuyến điện quốc gia cho các nghiệp vụ và các quy định cụ thể về quản lý, sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân tham gia nhập khẩu, sử dụng thiết bị DECT cần tuân thủ đúng các quy định để tránh gây can nhiễu cho các nghiệp vụ khác, nhất là ảnh hưởng đến chất lượng của người dùng mạng 3G vừa được triển khai.

    Đối với các trường hợp cố tình vi phạm các quy định trên thì tùy vào mức độ, hành vi vi phạm mà áp dụng các mức xử phạt hành chính, hay hình sự. Cụ thể: Đối với việc xử lý thiết bị ĐTKD gây nhiễu có hại cho các mạng di động 3G, áp dụng theo Nghị định số 142/2004/NĐ-CP ngày 8/7/2004 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện thì bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng, ngoài ra còn bị tịch thu tang vật vi phạm hành chính. 

     Với các thiết bị ĐTKD, chỉ được sử dụng phương thức phát thoại điều tần (F3E) hoặc điều pha (G3E). Được sử dụng có điều kiện tại các băng tần:  
     Khối trung tâm Khối di động 
     43,71 ÷ 44,00 MHz; 48,75 ÷ 49,51 MHz;  
     46,60 ÷ 46,98 MHz 49,66 ÷ 50 MHz 
     821 ÷ 822 MHz 924 ÷ 925 MHz 
     
     
    Giới hạn phát xạ:
    Phát xạ chính: Công suất phát của phát xạ chính không được lớn hơn các giá trị tương ứng với các băng tần:183 mW ERP tại các băng tần 43,71 ÷ 44,00 MHz; 48,75 ÷ 49,51 MHz; 46,60 ÷ 46,98 MHz; 49,66 ÷ 50 MHz; 821 ÷ 822 MHz; 924 ÷ 925 MHz.
    Phát xạ giả: Tại các băng tần 43,71 ÷ 44,00 MHz; 48,75 ÷ 49,51 MHz; 46,60 ÷ 46,98 MHz; 49,66 ÷ 50 MHz; 821 ÷ 822 MHz; 924 ÷ 925 MHz: Độ suy giảm phát xạ giả so với phát xạ chính không được nhỏ hơn 32 dBc ở cự ly 3 m.
    Thông tư 36/2009/BTTTT của Bộ Thông tin Truyền thông
     
    Điện thoại không dây (cordless telephone) theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN10:2010/BTTTT: Thiết bị điện thoại đầu cuối được kết nối với mạng điện thoại công cộng qua giao diện tương tự 2 dây. Thiết bị này bao gồm hai khối riêng biệt được kết nối với nhau qua giao diện vô tuyến:
    - Khối trung tâm (còn gọi là trạm gốc hay máy mẹ): được đặt cố định và đấu nối với đôi dây điện thoại của mạng điện thoại công cộng (PSTN); sử dụng anten tích hợp hoặc anten nối ngoài có trở kháng 50 W.
    - Khối di động (còn gọi là máy con): máy cầm tay sử dụng anten tích hợp và máy đặt trên bàn hoặc lắp đặt trên các phương tiện di động sử dụng anten nối ngoài. Khối này mang số thuê bao điện thoại của khối trung tâm và có thể đàm thoại nội bộ với khối trung tâm.

    ID: B1009_70