• Thứ Bảy, 05/02/2011 15:46 (GMT+7)

    Đồng bằng sông Cửu Long: CNTT-TT CẦN “ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC”

    Quang Hải
    Trong tháng 12/2010, Bộ Thông tin Truyền thông (TTTT) đã công bố dự thảo “Quy hoạch phát triển CNTT-TT vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2020” nhằm tìm cách cải thiện môi trường ứng dụng CNTT tại khu vực ĐBSCL.
    Ông Trần Đức Lai

    Thế giới Vi tính B đã phỏng vấn Thứ trưởng Bộ TTTT Trần Đức Lai và Phó Viện trưởng Viện Chiến lược TTTT Phạm Mạnh Lâm về một số chi tiết gây được nhiều chú ý trong dự thảo nói trên.

    Quan điểm của Bộ TTTT về việc phát triển CNTT-TT khu vực ĐBSCL?

    Ông Trần Đức Lai: Theo chỉ đạo của Chính phủ và Nghị quyết của Bộ Chính trị thì Việt Nam có 4 vùng kinh tế trọng điểm, mà ĐBSCL là một vùng kinh tế trọng điểm phải đi trước một bước để kéo theo sự phát triển của toàn vùng. Do đó, Bộ TTTT cũng xác định CNTT-TT tại ĐBSCL là một trong những nội dung trọng tâm cần phải phát triển để kéo theo sự tăng trưởng của các lĩnh vực kinh tế xã hội khác.

    Khu vực ĐBSCL là một trọng điểm kinh tế lớn của miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, nhưng lại xếp hạng khá thấp trong bảng ICT Index của Việt Nam. Đâu là nguyên nhân chính của tình trạng này?

    Ông Phạm Mạnh Lâm: Việc xếp hạng thấp về Chỉ số sẵn sàng phát triển và ứng dụng CNTT (ICT Index) Việt Nam cho thấy hiện trạng ứng dụng CNTT tại các tỉnh ĐBSCL thấp hơn so với mặt bằng ứng dụng CNTT chung của cả nước. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó phải kể đến đầu tiên là điều kiện địa lý của ĐBSCL. Địa hình khu vực này bị chia cắt khá nhiều, do đó việc đầu tư hạ tầng CNTT-TT phải tốn kém hơn so với các khu vực khác.

    “Môi trường ứng dụng CNTT tại khu vực ĐBSCL không thể thay đổi được trong thời gian ngắn, mà cần có quá trình chuẩn bị và liên tục điều chỉnh trong giai đoạn thực hiện”, Thứ trưởng Trần Đức Lai.

    Tuy nhiên, yếu tố lớn nhất tạo ra hiện trạng này là mặt bằng chung về trình độ của nguồn nhân lực, bao gồm trình độ văn hóa và trình độ của lao động đã qua đào tạo đều thấp. Trình độ thấp đã hạn chế rất nhiều khả năng tiếp cận với những công nghệ cao. Do đó, ngay cả khi đã đầu tư trang thiết bị thì nhiều khi cũng không dùng được. Tỷ lệ các trường/cơ sở đào tạo trong vùng có dạy về CNTT không cao; số máy tính đếm trên đầu sinh viên cũng không đủ đáp ứng nhu cầu thực hành.

    Ông Phạm Mạnh Lâm

    Vậy, Bộ TTTT đã có giải pháp nào để khắc phục khó khăn về nguồn lực này?

    Ông Trần Đức Lai: Một số giải pháp sơ bộ đã nêu ra trong dự thảo như tăng cường chất lượng cho các trường ĐH có đào tạo CNTT-TT trong khu vực như ĐH Cần Thơ, ĐH An Giang. Chúng tôi cũng đang trình Chính phủ cho phép lập thêm các trường chuyên về CNTT-TT hoặc thêm khoa CNTT-TT vào các trường có sẵn. Bộ TTTT sẽ cùng với các tỉnh phối hợp bồi dưỡng kiến thức CNTT-TT cho các cán bộ đang công tác biết quản lý vận hành, khai thác các hệ thống tại cơ quan đơn vị mình.

    Theo ông cần phải có những thay đổi chính sách như thế nào để kích thích doanh nghiệp tham gia xã hội hóa giáo dục trong ngành CNTT?

    Ông Phạm Mạnh Lâm: Trên thực tế, Nhà nước đang cho phép các đơn vị đào tạo phi chính quy phát triển khá thoải mái, nên thực tế không cần phải mở thêm về hướng này. Chính phủ có thể tạo điều kiện tốt hơn cho các trung tâm đào tạo phi chính quy bằng cách đặt ra quy chuẩn và công nhận chất lượng các chương trình đào tạo của nhóm này. Việc được công nhận giá trị tương đương với một bằng cấp chính quy sẽ tạo điều kiện cho người lao động bước vào các vị trí trong cơ quan nhà nước và từ đó góp phần nâng cao mặt bằng trình độ chung trong nhóm này.

    Thời điểm có thể đưa ra hệ thống quy chuẩn này phụ thuộc vào Bộ Nội vụ, vì trong kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đến 2015 được Chính phủ phê duyệt, Bộ Nội vụ được chỉ đạo nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn cho cán bộ CNTT trong cơ quan nhà nước và tiêu chuẩn cho lãnh đạo CNTT. Nếu chưa ban hành các tiêu chuẩn này, sẽ khó đưa ra hệ thống quy chuẩn phù hợp cho nhóm đào tạo phi chính quy.

    “Quá trình xã hội hóa giáo dục luôn có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển CNTT không chỉ ở ĐBSCL mà cả trên toàn quốc. Theo cảm nhận của riêng tôi, thì xã hội phải đóng vai trò 60% đến 70% trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT cho khu vực ĐBSCL từ nay đến 2020”, ông
    Phạm Mạnh Lâm.

    Với khó khăn là địa hình bị chia cắt nhiều, định hướng nào cho cơ sở hạ tầng khu vực ĐBSCL sẽ phù hợp, thưa ông?

    Ông Phạm Mạnh Lâm: Để khắc phục được vấn đề này thì việc phát triển hệ thống hạ tầng không dây là một định hướng mà Nhà nước quan tâm. Trong đó, vai trò phát triển của các công ty phát triển cơ sở hạ tầng mạng rất quan trọng. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi khuyến khích sử dụng hệ thống mạng không dây ở khu vực ĐBSCL.

    Đương nhiên nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo ra khoảng cách về giá trị sử dụng giữa các khu vực. Tuy nhiên, vẫn cần tạo ưu đãi theo thời điểm nhất định để kích thích phát triển theo chiến lược định sẵn.

    ID: B1101_8