• Thứ Ba, 08/03/2011 14:37 (GMT+7)

    Khoa học công nghệ: “Gốc” để phát triển

    Hải Thanh
    20 năm trước, ai cũng nghĩ, bưu chính viễn thông chỉ có Nhà nước quản lý. Nhưng khi mở cửa cho nhiều thành phần kinh tế tham gia thì lĩnh vực này phát phiển nhanh chóng và rất thành công.

    Viễn thông sau hơn 10 năm mở cửa...

    Đến nay, Việt Nam có trên 73 triệu thuê bao điện thoại. Dù một người có thể dùng 3 đến 4 sim số, nhưng số thuê bao này so với dân số 86 triệu dân vẫn là đáng kinh ngạc…

    Tuy nhiên, để trở thành cường quốc chúng ta phải tiếp tục đầu tư KHCN cho hạ tầng kỹ thuật của CNTT - viễn thông như hệ thống, cáp, những công nghệ tiên tiến nhất trong sản phẩm đầu cuối CNTT. Bên cạnh đó, cần tạo hành lang pháp lý cho các tập đoàn và các tổng công ty phát triển và cạnh tranh. Cạnh tranh thậm chí vươn kịp ra thế giới.

    Tập trung KHCN cho nông sản

    Là nước nhiệt đới, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển nông sản, có thể trở thành một cường quốc về sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới. Nhưng không phải ai cũng ủng hộ việc phát triển này. Có người cho rằng, bây giờ sao lại đi lo phát triển nông nghiệp…

    Nhưng thực tế, muốn phát triển bền vững thì phải nghĩ đến phát triển lương thực, góp phần cho an ninh lương thực toàn cầu. Không quan tâm đến phát triển lương thực sẽ không có nguồn gạo dự trữ, hàng tỷ người có nguy cơ chết đói khi thiên tai, lũ lụt xảy ra liên miên…
    Để trở thành cường quốc về sản phẩm nông nghiệp, KHCN cần phải tập trung giải quyết những vấn đề như:
    Phát triển công nghệ giống. Gần như chúng ta chưa chủ động được về giống. Khoa học về giống phải có những trung tâm, chế độ, chính sách, những nhà nghiên cứu khoa học đầu đàn. Nếu cần, chúng ta phải đi thuê các nhà khoa học nước ngoài về làm và dạy cách làm giống

    Chế biến nông sản đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tất cả các sản phẩm nông sản phải đạt tiêu chuẩn thế giới chứ không phải đem tiêu chuẩn của Việt Nam để áp dụng. Chúng ta phải bán những gì thế giới cần chứ không phải bán cái gì mình có. Cần đầu tư máy móc để chế biến sản phẩm đạt chất lượng theo tiêu chuẩn thế giới. Và cần có đóng góp của nhà quản lý, làm maketing, quảng cáo thị trường và sản phẩm quốc gia.

    Việt Nam có thể trở thành cường quốc về kinh tế biển. Để trở thành quốc gia mạnh về biển thì phải có chính sách, đánh giá đúng mức tài nguyên, và phải được khai thác khoa học…

    Thứ trưởng Nguyễn Văn Lạng, Bộ Khoa học và Công nghệ, trong cuộc trao đổi đầu năm với TGVT B đã cho rằng, CNTT cũng như nhiều lĩnh vực khác để phát triển mạnh không thể rời xa “gốc” khoa học công nghệ (KHCN)… Dưới đây là tóm lược các ý kiến của ông:

    “Công nghệ nguồn” thương hiệu Việt

    Chúng ta chỉ có một vài lĩnh vực kinh tế là có công nghệ nguồn của Việt Nam. Hầu hết công nghệ được du nhập từ các nước tiên tiến, các nước có thế mạnh về lĩnh vực công nghệ: Chế tạo máy, nhập từ Mỹ, Nhật Bản, Đức…; Nông nghiệp nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan; Y tế nhập từ Đức, Ý, Pháp…

    Mặc dù, chúng ta có tổ chức nghiên cứu rất nhiều về công nghệ và cũng có những thành công, nhưng rào cản là từ sản phẩm nghiên cứu chuyển sang thương mại hóa, chuyển sang sản xuất chưa có đầy đủ hàng lang pháp lý, chính sách. Ví dụ: Một công nghệ hay một quy trình được nghiên cứu ra, nếu DN cần mua thì người nghiên cứu, cơ quan chủ quản sở hữu công nghệ, quy trình đó có được bán không? Mức thuế được tính như thế nào? Ai là người giám định giá của công nghệ còn đang bị hở...

    Công nghệ phải gắn với nhu cầu của thị trường. Giữa người làm ra công nghệ và nhu cầu thị trường phải được gắn kết chặt chẽ với nhau. Hiện nay, công nghệ vào Việt Nam theo xu hướng: Các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào thông qua Nghị định thư hợp tác chuyển giao công nghệ; Do các DN mua công nghệ nước ngoài đem về; Cuối cùng là công nghệ của người Việt Nam tạo ra và tổ chức phát triển.

    Ươm tạo doanh nghiệp

    Để có một thị trường công nghệ, thế giới hình thành loại hình kết nối giữa sản xuất và khoa học, ươm tạo DN.

    Từ một công nghệ của một nhóm người hay của một đề tài nghiên cứu của cá nhân nào đó, thì cấp tỉnh, cấp bộ hay một đơn vị có đề tài nghiên cứu sẽ vào trung tâm ươm tạo để có các điều kiện về pháp lý, hỗ trợ về đào tạo, dịch vụ… Từ đó ý tưởng, công nghệ, quy trình nghiên cứu trở thành sản phẩm. Nhóm người hay cá nhân làm nghiên cứu đó sẽ trở thành doanh nhân. Và tổ chức nghiên cứu đó trở thành DN.

    Việt Nam cũng đã hình thành các trung tâm ươm tạo khoa học. Nhưng chúng ta chưa có một văn bản pháp lý nào của Nhà nước cho hoạt động của các trung tâm này. Ví dụ, phải ra được một quyết định nào đó của Chính phủ, Thủ tướng hay một luật, thông tư liên bộ… thể hiện quy trình, đối tượng, phạm vi, hỗ trợ đào tạo, dịch vụ…; và nguồn tài chính cho hoạt động đó. Nguồn tài chính cho phát triển ý tưởng khoa học là rất quan trọng.
    Chúng ta cần có mô hình Phòng thí nghiệm dùng chung, có điện, nước, cáp quang… Ai làm nghiên cứu lĩnh vực nào thì đến phòng thí nghiệm đó để báo cáo, nghiên cứu… Chỉ từ cách đó thì chúng ta mới có công nghệ nguồn. Nếu chỉ chú trọng mời đầu tư sẽ khó có công nghệ hoặc có nhưng chậm. Khi nắm được công nghệ, chúng ta phải đổi mới liên tục, thay đổi liên tục…

    Ươm tạo: Thiếu hạt giống và công cụ hỗ trợ

    Khu Công nghệ Cao (CNC) TP.HCM đã tổng kết hoạt động năm 2010, ngày 12/1/2011. Theo đó, năm qua trong công tác ươm tạo, Khu CNC đã tiếp nhận 5 doanh nghiệp (DN) vào chương trình ươm tạo, trong đó chuyển từ giai đoạn tiền ươm tạo sang ươm tạo 3 DN và 2 DN đang tiền ươm tạo. Đơn vị đã giới thiệu được một sản phẩm từ kết quả ươm tạo ra thị trường là bộ KIT thử độc tố nấm (lĩnh vực công nghệ sinh học); Ra mắt dịch vụ y bạ điện tử và chăm sóc sức khỏe từ xa.

    Hiện khu CNC TP.HCM đang tiếp thị, quảng bá sản phẩm và tiếp cận thị trường đối với sản phẩm “hệ thống phun hạt mài lưu tốc cao”. Năm qua khu CNC tập trung tham gia hỗ trợ các DN ươm tạo trong việc nghiên cứu thị trường để làm cơ sở lập kế hoạch phát triển, hỗ trợ thực hiện đăng ký kinh doanh, xin giấy phép hành nghề, tư vấn pháp lý…

    Song thách thức của hoạt động ươm tạo hiện nay là chưa có đầu vào (hạt giống) tốt và thiếu công cụ hỗ trợ (nhất là công cụ tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểm).

    Trong năm 2011, Ban quản lý KCNC sẽ hướng đến mục tiêu: Tiếp tục hỗ trợ các dự án triển khai và hoạt động có hiệu quả; Thu hút đầu tư các dự án CNC, ưu tiên các dự án trong nước góp phần vào mục tiêu tăng trưởng của thành phố và thực hiện chương trình “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố”; Cải thiện môi trường hấp dẫn để thu hút các nguồn lực hoạt động CNC một cách bền vững, góp phần tạo nền tảng thực hiện chương trình “Chuyển đổi mô hình phát triển” và “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”…

    Ông Lê Thái Hỷ (thứ 2 từ phải qua) đang trao giấy phép đầu tư cho đại diện Công ty dịch vụ Tường Minh (TMA Solutions – TMA, là 1 trong 2 dự án tiên phong vào Khu không gian khoa học KCNC TP.HCM) ngày12/10/2010.

     

    ID: B1102_61