• Thứ Sáu, 10/06/2011 10:22 (GMT+7)

    “Phong cách Xanh” từ đại học

    Song Hà
    Người sinh viên cuối cùng ra khỏi lớp học quên tắt đèn và máy lạnh. Nhân viên dùng nước trong nhà vệ sinh “không thương tiếc”. Ai đó đã đổ rác không đúng nơi quy định. Những hành động như vậy có thể bị “ghi sổ đen” trong một đại học (ĐH) Xanh!

    Trải nghiệm “xanh” từ ĐH

    Từ những năm 1990, nhiều trường ĐH trên thế giới đã đưa ra các tuyên bố về “giáo dục ĐH vì phát triển bền vững”. Tuyên ngôn “Talloires 1990”, do 22 nhà lãnh đạo ĐH cùng ký, đã đưa ra các phương thức lồng ghép giáo dục về môi trường và phát triển bền vững vào hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, quản lý và tiếp cận cộng đồng.

    Nhiều trường ĐH đã có những chương trình “xanh” thành công, như ĐH Harvard, ĐH Copenhagen, hoặc ĐH Sư phạm Đài Loan... Trường ĐH Copenhagen “xanh nhất châu Âu” dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Các hoạt động kết nối cộng đồng để có dữ liệu đầu vào chất lượng cao và có cơ sở khoa học được trường ưu tiên hàng đầu. Nơi đây cũng có chương trình đào tạo về biến đổi khí hậu ở nhiều khoa, cấp học với nhiều hình thức đào tạo như toàn thời gian, mùa hè, theo khóa và theo môn. Các hoạt động hợp tác và liên kết trong lĩnh vực biến đổi khí hậu cũng được thúc đẩy.

    Theo Giáo sư Shin-Cheng Yeh, Khoa Đào tạo sau ĐH về Giáo dục Môi trường, ĐH Sư phạm Đài Loan: “ĐH Xanh” được vận hành theo nguyên tắc phát triển bền vững, đồng thời nhận thức rõ trách nhiệm xã hội mà giáo dục ĐH phải gánh vác.

    Giáo sư Lloyd Armstrong, nguyên hiệu trưởng ĐH Nam California, Hoa Kỳ cũng chia sẻ: “Tầm ảnh hưởng của giáo dục bền vững sẽ được xác định bởi “nối kết và phản hồi”. Nghĩa là hoạt động nghiên cứu và triển khai của giảng viên gắn liền với thực tiễn xã hội và ngành nghề. Việc ứng dựng lý thuyết trừu tượng vào thực tế giúp sinh viên nhận thức cụ thể hơn nguyên lý tổng quát, tăng tư duy phản biện”. Theo ông, sinh viên nên được tham gia các dự án cộng đồng như cấp nước, dạy chữ, thiết kế không gian xanh... Thậm chí họ có thể dành một học kỳ hay một năm để làm việc tại doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, hoặc tổ chức phi chính phủ để có thể ứng dụng những gì mình đã học vào thực tế và phản ảnh thực tế bức bách đến giới học thuật. Luồng thông tin hai chiều sẽ giúp hiệu quả giáo dục bền vững tăng; kiến thức phát triển nhanh hơn và lan tỏa xu hướng phát triển bền vững trong cả trường ĐH lẫn cộng đồng.

    “Mục đích cuối cùng là “Học để phục vụ””, giáo sư Armstrong nhận định.

    Đo lường kết quả

    “Chúng ta chỉ có thể quản lý những gì đo lường được”. Vì vậy, Hiệp hội Cổ vũ sự Bền vững trong ĐH (AASHE) của Hoa Kỳ đã xây dựng một hệ thống phát hiện, đánh giá và xếp hạng tính bền vững (Sustainability Tracking, Assessment & Rating System – STARS). Theo đó, các tiêu chí về giáo dục và nghiên cứu, hoạt động, kế hoạch, điều hành và mức độ tham gia, sáng tạo đều có thể đo lường được để xác định mức độ thành công.

    Liên khoa, liên ngành

    Bản thân các trường ĐH thường đa khoa và đa ngành, do đó, giáo dục phát triển bền vững trong trường ĐH phải “liên khoa, liên ngành”. Giáo sư Omar Osman, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Universiti Sains Malaysia (USM) cho biết: “Khóa học Bền vững” trở thành khóa học bắt buộc với tất cả các sinh viên. Phương pháp tiếp cận đa ngành cũng được áp dụng đối với một số khóa học. Trong nghiên cứu và học thuật, USM sẽ vận dụng tiếp cận xuyên/liên ngành đối với các sáng kiến nghiên cứu tân tiến, cao cấp.

    Ông Phạm Như Hồ, Tổng thư ký Hội đồng Sáng lập ĐH Quốc tế Trí Việt (một dự án đang được xây dựng tại Việt Nam) cho rằng, có hai phương thức để đưa “Bền vững” vào chương trình đào tạo. Một là tạo ra những môn học ngang (transversal) với nội dung về “Bền vững” cho tất cả các sinh viên, ví dụ: Toàn cầu hóa và Phát triển Bền vững, Sinh thái học Đô thị và Công bằng Xã hội. Cách thứ hai là lồng ghép nội dung “Bền vững” vào các môn chuyên ngành.

    Mục tiêu phục vụ bền vững

    Giáo dục về phát triển bền vững (Education for Sustainability) chính là để phục vụ bền vững. Theo ông Phạm Như Hồ,“phục vụ bền vững” là yếu tố chính để xác định tính bền vững của một ĐH.

    Giáo sư Shin-Cheng Yeh phân tích thành công của “Sáng kiến Xanh” mà ĐH Harvard đã đưa ra năm 2000. “Sáng kiến Xanh” có những quy chế cụ thể về xây dựng chính sách, phối hợp liên kết các bộ phận/khoa, kiểm toán và đánh giá. Khoản tài trợ 150.000 USD đã cho phép nhà trường cho vay không lãi suất cho các dự án bền vững về môi trường. Từ đó, Harvard đã triển khai thành công các chương trình hành động làm tăng tính hiệu quả và sử dụng tài nguyên có thể tái tạo, giảm thiểu chất thải có hại cho môi trường trong mọi hoạt động của trường và cả các nhà cung ứng cho trường.

    Ông Võ Đình Thanh, nhà nghiên cứu khoa học, Văn phòng Quản lý Đại dương và Khí hậu Hoa Kỳ nói rằng một số khảo sát về ĐH bền vững ở Hoa Kỳ và Canada cho thấy: Chính sách hoạt động và quản trị là nhân tố quan trọng để môi trường “ĐH xanh” thành công. Ví dụ, chính sách mua sắm điện tử, thiết bị, văn phòng phẩm, năng lượng,.. cần ưu tiên cho việc mua các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, dù chi phí đầu tư ban đầu có thể cao hơn một chút.

    Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Hội đồng Sáng lập dự án ĐH Trí Việt cho biết sẽ đưa các nội dung về phát triển bền vững thành môn học bắt buộc cho tất cả các sinh viên. Đối với các ngành học đã liên quan đến phát triển bền vững thì nội dung cần phải có “dấu ấn” riêng. Ví dụ, ngành học Kỹ thuật Công nghệ sẽ có bộ môn “Năng lượng và Môi trường”; Khoa Kinh tế và Quản trị có bộ môn “Quản lý Nguồn lực Nước”; ngành học “Thiết kế và Kiến trúc” sẽ có ngành học “Kiến trúc Xanh”...

    Sinh viên là trọng tâm

    Ông Thanh cho rằng sinh viên chính là trọng tâm của quá trình giáo dục và ứng dụng phát triển bền vững. Ông nhấn mạnh không gian ĐH là “phòng thí nghiệm sống”, mang đến trải nghiệm thực sự về tính bền vững. Vì vậy, sinh viên và giảng viên cần được khuyến khích tham gia xây dựng các chính sách, yêu cầu và tiêu chuẩn phát triển bền vững trong môi trường ĐH. Nhà trường cần quan tâm hỗ trợ các tổ chức và sáng kiến của sinh viên, giúp họ tham gia nhiều hoạt động xã hội, ứng dụng những gì đã học.

    Đồng tình với ý kiến này, Tiến sĩ Jennifer Allen, Phó Giáo sư Khoa Quản lý công, thành viên Viện Nghiên cứu các giải pháp cho sự bền vững, ĐH Portland (Hoa Kỳ) cho rằng mọi nhân sự đều có vai trò trong hoạt động và quản trị ĐH Xanh. Tuy nhiên, cấp cao có vai trò cốt yếu. Giảng viên và sinh viên nếu có điều kiện cùng hoạt động trong các “Dự án xanh” sẽ củng cố quan hệ thầy trò, đối thoại đa ngành, “đồng sản xuất” kiến thức và thúc đẩy tinh thần phát minh, sáng tạo về phát triển bền vững.

    * Thông tin bài viết được ghi nhận tại hội thảo ĐH Xanh do Dự án ĐH Trí Việt tổ chức (tháng 12/2010 tại TP.HCM)

    ID: B1103_66