• Thứ Sáu, 08/07/2011 10:15 (GMT+7)

    M&A tại Việt Nam: Liệu có cất cánh

    Song Hà
    Các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, bán lẻ, viễn thông, công nghiệp... tại Việt Nam tới đây được dự báo sẽ sôi động hoạt động mua bán và sát nhập (M&A).

    Sôi động sau khủng hoảng

    Năm 2010 tại Việt Nam có 345 thương vụ M&A với trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 65% so với năm 2009. Số liệu này vừa được công bố tại “Diễn đàn M&A Việt Nam 2011” lần thứ III ngày 9/6/2011 tại TP.HCM do Báo Đầu tư phối hợp với Công ty AVM Vietnam tổ chức.

     

    Ông Matthew Lourey, Giám đốc Dịch vụ Tư vấn, Công ty Grant Thornton Vietnam, nhận định: M&A sẽ tăng trở lại ở Việt Nam. Theo số liệu từ một nghiên cứu của Grant Thornton, 20% số DN Việt Nam (tỷ lệ toàn cầu chỉ 11%) được khảo sát cho biết sẽ có sự thay đổi trong quan hệ sở hữu tại DN của họ, 17% lên kế hoạch tăng trưởng thông qua M&A.

    Trên toàn cầu, M&A cũng có xu hướng tăng trở lại, vì tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng sẽ làm gia tăng nhu cầu M&A”. Điều này khá hợp lý vì khi càng nhiều DN gặp khó khăn trong kinh doanh thì M&A càng sôi động. Các nhà đầu tư dễ có cơ hội mua lại DN với “giá mềm”.

    Tại Diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nguyễn Thế Phương nhận định: “Việc phân tích xu hướng M&A trong các lĩnh vực cụ thể sẽ chỉ ra cho doanh nghiệp (DN) những cơ hội cụ thể cũng như những vấn đề mà DN đang vướng trong hoạt động này”.

    Ông Phạm Quang Huy, Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán Dầu khí PSI, đồng nhận giải Công ty tư vấn M&A tiêu biểu Việt Nam (2010-2011) và giải “Thương vụ phát hành riêng lẻ tiêu biểu Việt Nam 2010-2011” (với thương vụ Công ty chứng khoán Nhật Bản SMBC Nikko mua lại 14,9% PSI), nhận định: “Các nhà đầu tư Nhật Bản sẽ tăng cường M&A vào thị trường Việt Nam

    Việc chưa có một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về M&A cũng gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước
    ông Đỗ Bá Phú, Phó Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh.
    Vì hiện nay chính phủ Nhật Bản đang áp dụng chính sách “xuất khẩu tư bản”, tức là đầu tư vốn ở thị trường nước ngoài”. Ông Huy cho rằng, các nhà đầu tư Nhật Bản và cả Hàn Quốc sẽ có thể chiếm ưu thế trong các hoạt động M&A ở Việt Nam trong thời gian sắp tới. Các nguồn vốn từ Mỹ và châu Âu không còn dồi dào, do đang gặp nhiều khó khăn trong khôi phục kinh tế sau khủng hoảng tài chính.

    Khó khăn cũ, thuận lợi mới

    Tại Diễn đàn, có nhiều ý kiến phân tích nguyên nhân cản trở sự phát triển các hoạt động M&A ở Việt Nam, trong đó có khó khăn đến từ hệ thống pháp luật. Điều này trùng với nhận định mà các nhà đầu tư nước ngoài nói chung nêu ra về thị trường Việt Nam. Ông Mayooran Elalingam, Trưởng Bộ phận M&A khu vực Đông Nam Á của Ngân hàng Deutsche Bank cho biết: “Quý 2 năm 2011, 75% nguời được hỏi đã cho rằng hệ thống pháp luật là một cản trở trong đầu tư ở Việt Nam (con số này vào quý 4/2009 là 100%). Điều này cho thấy, rào cản về pháp luật đang từng bước được tháo gỡ, nhưng vẫn chưa “đủ” để thực sự hỗ trợ cho các hoạt động M&A”.

    Giá trị tăng trưởng các thương vụ M&A tại Việt Nam năm 2010 so với 2009 đạt 65%, một mức tăng kỷ lục! Trước đó, tốc độ tăng trưởng hàng năm chỉ khoảng 25-30%.
    Hiện tại trong hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến M&A như Luật cạnh tranh, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật ngành... Tuy nhiên, có sự không thống nhất giữa các luật khác nhau khi điều chỉnh một hành vi. Ví dụ giữa Luật chứng khoán và Luật DN khi điều chỉnh hoạt động mua cổ phần một công ty đại chúng là một rào cản đối với nhà đầu tư nước ngoài. Một số rào cản pháp lý khác: sự phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và tư nhân, hay hạn chế của các nhà đầu tư nước ngoài khi tiếp cận một số ngành nghề (ví dụ: viễn thông, ngân hàng...), sự thiếu rõ ràng của luật, của cơ chế định giá DN nhà nước...

    Hiện nay công ty nước ngoài chưa được mua cổ phần chi phối (hơn 51%) ở các công ty đại chúng. Ngân hàng bị giới hạn bởi tỷ lệ tối đa 30% cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ. Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài phải xin phép khi mua hơn 49% cổ phần một công ty, hoặc từ 10% cổ phần công ty bảo hiểm, hoặc từ 5% cổ phần ngân hàng.

    Một khó khăn nữa cho thị trường M&A Việt Nam là thiếu vắng một hệ thống cơ sở dữ liệu chính thức.

    Các thương vụ M&A tiêu biểu nhất Việt Nam được trao giải tại diễn đàn nói trên là: THMilk-Tập đoàn Tate&Lyle (Anh), Masan-Núi Pháo Vica; trong đó Viettel là DN thuộc ngành CNTT- truyền thông. Ngoài ra, thương vụ Ebay mua lại 20% Peacesoft (đơn vị sở hữu Chodientu.vn) cũng nhận giải thưởng “Thương vụ Phát hành riêng lẻ tiêu biểu Việt Nam 2010-2011”.

    Tuy vậy, “điểm sáng” thị trường M&A Việt Nam là sự “trỗi dậy” của các công ty Việt Nam ở cả bên bán và bên mua. Ông Nguyễn Công Ái, Phó Tổng Giám đốc KMPG Việt Nam, một đơn vị tư vấn về M&A nói: “Cản trở lớn nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển hoạt động M&A ở Việt Nam trước đây chính là nội lực công ty. Từ năm 2009 trở lại đây, nhiều công ty Việt Nam đã thay đổi về chất (tầm hoạt động, vốn, khả năng quản trị, “tham vọng”...).

    Điều này một mặt hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài đến với M&A tại Việt Nam. Mặt khác, một số công ty Việt Nam cũng có khả năng đi mua/góp vốn vào các công ty tại Việt Nam và nước ngoài. Điển hình những công ty có sự “trỗi dậy” như: Viettel, Vinamilk, Hoàng Anh Gia Lai...”.

    Liệu có cất cánh?

    Mặc dù triển vọng tăng trưởng thị trường M&A ở Việt Nam là có thật, nhưng độ lớn giá trị của nó hiện còn khá khiêm tốn so với cả khu vực. Ông Mayooran Elalingam cho biết: các thương vụ M&A ở Đông Nam Á dự kiến sẽ hoàn tất trong năm 2011, có giá trị khoảng 39 tỷ USD, tăng 32% so với năm 2010. Singapore, Malaysia và Indonesia là những nước có giá trị các thương vụ M&A cao nhất. Như vậy, Việt Nam (nếu giá trị M&A 2011 bằng 2010) chỉ chiếm khoảng gần 5% giá trị M&A Đông Nam Á, một con số khá khiêm tốn.

    Ông cho rằng sự phát triển của thị trường M&A Việt Nam còn hạn chế vì nền kinh tế còn dựa chính vào các ngành nông nghiệp (có tỷ lệ đóng góp vào GDP lớn nhất châu Á), không dễ cho các nhà đầu tư nước ngoài mua lại. Khó khăn thứ hai, theo ông, chính là những bất cập trong các chính sách và luật pháp. Thứ ba là tỷ lệ lạm phát dự kiến sẽ cao (khoảng hơn 15% trong năm 2011). Tuy vậy, ông cho rằng Chính phủ Việt Nam đang “đi đúng hướng” trong việc điều chỉnh hệ thống pháp luật thông thoáng hơn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

    Ông Mayooran dự đoán M&A ở VIệt Nam sẽ tiếp tục gia tăng nhanh, và có thể lặp lại mô hình tăng trưởng của thị trường M&A của Indonesia từ sau năm 2005. Đi từ vài tỷ USD xuất phát điểm, hiện nay M&A Indonesia đã đạt giá trị hơn chục tỷ USD. Tuy nhiên, sự tăng trưởng mạnh hơn nữa chỉ có khi các khó khăn, cản trở hiện nay với M&A được tháo gỡ đáng kể.

    Viettel đã chi 59 triệu USD để mua lại 70% cổ phần của Công ty Viễn thông Teleco tại nước Cộng hòa Haiti. Trước đó, Viettel mua lại các mạng di động mạng MetFone (Campuchia, tháng 2/2009) và mạng Unitel (Lào, tháng 10/2009). Hiện công ty này đang tiến hành mua lại 60% cổ phần Teletalk Bangladesh trị giá 300 triệu USD.
     

    Viettel hiện đứng thứ 19/784 trên bản đồ viễn thông thế giới xét theo quy mô thuê bao, tính đến quý 3/2010 do Tổ chức Wireless Intelligence công bố. Sau hơn một năm khai trương mạng di động thế hệ thứ 3 (3G), Viettel sở hữu mạng 3G lớn nhất khu vực Đông Nam Á với 17.000 trạm phát sóng BTS 3G.

    Từ khóa: mua bán công ty
    ID: B1107_30