• Thứ Hai, 29/08/2011 16:41 (GMT+7)

    Nghiên cứu CNTT: Cần Đổi mới - Sáng tạo

    Nguyễn Lãm
    Những chương trình nghiên cứu khoa học về CNTT, vẫn tác động rất hạn chế vào sự phát triển của ngành và các lĩnh vực kinh tế xã hội nói chung. Sự thực này cần được phân tích để mở hướng phát triển

    Nghiên cứu khoa học xuất hiện khá sớm…

    Từ 30 năm trước, khi ngành CNTT thế giới còn phôi thai, nước ta cũng đã xuất hiện những chương trình nghiên cứu khoa học (NCKH) về nó.

     

    Chẳng hạn, chương trình Toán-Điều khiển học (1981-1985) do Giáo sư Phan Đình Diệu làm chủ nhiệm cùng với các thành viên hàng đầu trong lĩnh vực này như Trần Lưu Chương, Trịnh Quang Khuynh, Nguyễn Lãm, Nguyễn Xuân Lộc, Nguyễn Quang Thái, Nguyễn Đình Trí, Hoàng Tụy. Tiếp theo, chương trình Tin học 48A (1986 -1990) với các mục tiêu: Đẩy mạnh NC phát triển tin học; Triển khai ứng dụng tin học; NC cơ sở KH kỹ thuật để xây dựng nền công nghiệp tin học; chương trình Điện tử - Tin học - Viễn thông KC-01(1991 -1995), do GS Vũ Đình Cự làm chủ nhiệm…

    Từ 2006 đến 2010, có chương trình KC.01/06-10 “Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông” do GS Nguyễn Thúc Hải làm chủ nhiệm. Ngày 18/3/2011, Ban chủ nhiệm chương trình này đã phối hợp với Bộ KHCN tổng kết cho thấy: sau 5 năm triển khai, nhiều thiết bị linh kiện và phần mềm có chất lượng đã được cho ra đời; chương trình còn đào tạo gần 30 tiến sĩ, hơn 100 thạc sĩ, cử nhân KH, công nghệ có khả năng tiếp nhận, phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông tiên tiến vào nhu cầu thực tiễn.

    Tuy nhiên, nhìn chung, đa số các NCKH trên lại có tác động rất hạn chế, vì sao?

    Chưa theo nhu cầu thị trường

    CNTT được khẳng định có vai trò quan trọng trong phát triển đất nước. Nhưng sau những chủ trương, quyết định, chỉ thị được công bố… thì những biện pháp cụ thể liên quan đến cơ chế, chính sách đầu tư… nhằm đưa nó thực sự đi vào cuộc sống gần như là “con số không”!

    40 năm trước, từ chỗ thực hiện NCKH theo kiểu tự phát, quy trình NCKH hiện nay đã có tiến bộ, được quản lý theo chương trình, đề tài, nhưng nhìn chung, nó vẫn chưa vận động theo nhu cầu của thị trường. Tổ chức nào có nhu cầu NC thì đăng ký đề tài, chương trình (theo một cấp nào đó). Cơ quan quản lý sẽ thành lập một hội đồng để tuyển chọn, tổ chức nhận đề tài. Khi thực hiện xong, đề tài sẽ được một hội đồng nghiệm thu, đánh giá.

    Theo cơ chế này, các chương trình, đề tài khi nghiệm thu bao giờ cũng đạt kết quả, phần nhiều là xuất sắc. Nhưng kết quả đi vào thực tiễn lại ít được theo dõi! Thực tế cho thấy đã đến lúc cần phải thay đổi mô hình quản lý NCKH nói chung, CNTT nói riêng mới tạo được những sản phẩm KH có tác dụng, hữu ích!

    Đổi mới - Sáng tạo

    KH và CN, theo cách hiểu trước đây thì “Công nghệ” phải gắn liền với “Khoa học”; chưa làm xong công đoạn KH, thì chưa thể triển khai CN; Xã hội không chấp nhận những sản phẩm nghiên cứu trung gian, chưa đạt được kết quả cuối cùng.

    Doanh nghiệp - Người đặt hàng cần được trang bị kỹ năng thiết kế “ngược” (reverse engineering), từ sản phẩm mục tiêu, người đặt hàng biết cách xác định các “đầu vào” KHCN cần thiết để đặt hàng cho NCKH.
    Với tư duy hiện đại thì hoạt động NCKH phải thay đổi theo mô hình Đổi mới-Sáng tạo. Mô hình Đổi mới - Sáng tạo mang đến những sản phẩm KH CNTT có thể cạnh tranh với các nước. Chẳng hạn như: Sản phẩm nhận dạng lỗi sản xuất vi mạch điện tử của công ty Dolsoft, được sử dụng trong vài cơ sở sản xuất vi mạch ở Mỹ; phần mềm an ninh mạng của Bkis, công cụ tìm kiếm tiếng Việt trên điện thoại di động của Công ty Naiscorp. Gần đây công ty Robot TOSY, đã xuất khẩu đồ chơi đĩa bay sang Nhật, Mỹ, châu Âu…). Tuy nhiên, số sản phẩm CNTT cạnh tranh được của Việt nam vẫn còn quá ít.

    Để Đổi mới - Sáng tạo khi nguồn lực còn hạn chế, cần tập trung ngân sách vào những chương trình nghiên cứu và phát triển theo lĩnh vực ưu tiên… Ở nhiều quốc gia, nhận thức này đã được thể nghiệm rất rõ ràng trong thực tiễn.

    Nhưng ở Việt Nam, theo một báo cáo về KH của UNESCO năm 2010, nhiều chỉ tiêu quan trọng về KHCN được xếp vào nhóm các nước ở mức trung bình kém. Chi phí cho NCKH tính trên đầu người dân chỉ bằng 1/10 Trung Quốc, 1/150 Hàn Quốc,1/250 Singapore... Về số công trình được công bố trên các tạp chí quốc tế, Việt Nam chỉ bằng 1/3 Malaysia, 1/4 Thái Lan, 1/5 Singapore, 1/50 Hàn Quốc. Về số cán bộ NC trên 1 vạn dân, chỉ bằng 1/2 Thái Lan, Malaysia, 1/40 Singapore…

    Đáng tiếc là chúng ta chưa có số liệu thống kê riêng về ngành CNTT để làm căn cứ so với các nước.

    ID: B1107_62