• Thứ Hai, 26/09/2011 10:03 (GMT+7)

    Sẽ thắt chặt quản lý thị trường mật mã dân sự

    Thu Nga - Minh Hoàng
    Chưa đến 10% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh sử dụng sản phẩm mật mã dân sự trong khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm này trong xã hội đang rất lớn.

    Hiện nay, thị trường mật mã dân sự đang phát triển nhanh chóng với sự tham gia của các doanh nghiệp trong nước ngày một nhiều. Tuy nhiên trên thực tế, chưa đến 10% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh sử dụng sản phẩm mật mã dân sự, và trong số này có nhiều sản phẩm không có giấy phép từ cơ quan quản lý nhà nước. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã phỏng vấn Tiến sĩ Hồ Văn Hương, Ban Cơ yếu Chính phủ.

    Xin ông cho biết chủ trương, định hướng của Nhà nước đối với các sản phẩm mật mã dân sự?

    Về chủ trương, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu - phát triển công nghệ, sản phẩm mật mã dân sự, chuyển giao kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm mật mã dân sự. Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động nghiên cứu mật mã dân sự, sản xuất, kinh doanh và sử dụng sản phẩm mật mã dân sự theo quy định của pháp luật cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất sản phẩm mật mã dân sự phục vụ mục đích tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ban Cơ yếu Chính phủ chủ trì và phối hợp với các bộ, ngành có liên quan quản lý cấp phép cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu.

    Hiện nay về văn bản pháp lý chúng ta có Nghị định 73/2007/NĐ-CP ban hành ngày 8/5/2007 của Chính phủ về hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước và Thông tư 08/2008/TT-BNV ban hành ngày 17/11/2008 của Bộ Nội vụ hướng dẫn trình tự, thủ tục cấp phép, cấp chứng nhận.

    TS. Hồ Văn Hương tại Hội nghị Thế giới An ninh Bảo mật 2010.

    Tuy nhiên, các sản phẩm này khi được cá nhân, tổ chức nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng phục vụ cho các mục đích bảo mật thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước thì cần phải tuân thủ và chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa các hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm mật mã dân sự phải có Giấy phép.

    Ban Cơ yếu Chính phủ là đơn vị trực tiếp thực thi Nghị định 73/2007/NĐ-CP, trong đó có việc quản lý đăng ký, thẩm định, đánh giá, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy các sản phẩm mật mã dân sự và cấp Giấy phép sản xuất, kinh doanh sản phẩm mật mã dân sự, Giấy chứng nhận hợp chuẩn phẩm mật mã dân sự, Giấy chứng nhận hợp quy sản phẩm mật mã dân sự cho tổ chức, cá nhân.

    Theo ông, nhu cầu của việc sử dụng các sản phẩm mật mã dân sự hiện nay như thế nào?

    Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam, nhu cầu cũng như khả năng khai thác và sử dụng sản phẩm mật mã trong lĩnh vực bảo mật thông tin là rất lớn, việc sử dụng các giải pháp và các sản phẩm mật mã để bảo mật thông tin cũng đang tăng nhanh, đặc biệt là việc sử dụng sản phẩm mật mã dân sự. Theo ghi nhận của Ban Cơ yếu Chính phủ, số đơn vị tham gia cung cấp, sử dụng các giải pháp mật mã dân sự là rất lớn và sẽ tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường rất hứa hẹn.

    Rõ ràng nhu cầu đối với sản phẩm mật mã dân sự là hiển nhiên, vậy thực trạng hoạt động mật mã tại Việt Nam ra sao?

    Chúng ta thấy khá rõ nhu cầu sử dụng sản phẩm mật mã tại Việt Nam tương đối lớn, tập trung vào các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, cơ quan, tổ chức chính phủ, doanh nghiệp… chủ yếu ở 4 nội dung: nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng. Có thể khẳng định rằng nhiều công ty trong và ngoài nước đang kinh doanh sản phẩm và dịch vụ mật mã dân sự và hầu hết các sản phẩm mật mã dân sự hiện có trên thị trường đều là nhập khẩu.

    Tuy nhiên, có một thực tế phải thừa nhận là số lượng đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp xin cấp giấp phép chưa nhiều mặc dù Nghị định 73/2007/NĐ-CP và Thông tư 08/2008/TT-BNV đã đi vào hoạt động trên 3 năm. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng cơ bản nhất vẫn là doanh nghiệp chưa chịu tìm hiểu và tự giác thực hiện. Mặc dù vậy, trên thực tế đã có những đơn vị thực hiện tốt, nghiêm túc trong hoạt động xin cấp phép theo đúng tinh thần của Nghị định và Thông tư.

    Vậy làm sao để khắc phục tình trạng thiếu giấy phép, đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng?

    Để việc kinh doanh của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng khi Nghị định 73/2007/NĐ-CP và Thông tư 08/2008/TT-BNV thực sự phát huy vai trò, chúng ta cần sự nỗ lực của hai bên.

    Đối với cá nhân, tổ chức doanh nghiệp cần khuyến cáo, tuyên truyền, phổ biến, để họ hiểu và sử dụng các sản phẩm mật mã dân sự cần được cấp phép bởi Ban Cơ yếu Chính phủ. Ngoài ra cũng cần cho họ hiểu các nguy cơ tiềm ẩn, cũng như các mối hiểm dọa có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào, đối với cá nhân, tổ chức sử dụng sản phẩm mật mã dân sự không được cấp phép.

    Về phía cơ quan quản lý Nhà nước, Ban Cơ yếu Chính phủ đang giúp Chính phủ tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về mật mã dân sự được Chính phủ giao tại Điều 21, Nghị định 73/2007/NĐ-CP. Tuy nhiên, theo tôi, để Nghị định đi vào cuộc sống thì trong thời gian tới cần tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa tổ chức thực hiện các nhiệm vụ này. Đồng thời về phía các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng các sản phẩm mật mã dân sự cũng cần chấp hành tốt các quy định của pháp luật đã đề ra.

    1. "Thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước" là thông tin không thuộc nội dung tin “tuyệt mật", "tối mật" và “mật" được quy định tại Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước ngày 28 tháng 12 năm 2000

    2. "Mật mã" là quy tắc, quy ước riêng dùng để thay đổi hình thức biểu hiện thông tin với mục đích giữ bí mật nội dung thông tin đó

    3. "Mật mã dân sự" là mật mã dùng đề bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước

    4. "Sản phẩm mật mã dân sự" là các tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật, chương trình phần mềm mật mã dùng để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước

    5. "Kinh doanh sản phẩm mật mã dân sự" là việc thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ

    6. "Dịch vụ mật mã dân sự" bao gồm các dịch vụ tư vấn, cung cấp, triển khai lắp đặt, đào tạo, bảo hành, sửa chữa các loạt sản phẩm mật mã dân sự và các dịch vụ khác có liên quan để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

    (trích Điều 3, Nghị định 73/2007/NĐ-CP).