• Thứ Năm, 15/01/2004 17:27 (GMT+7)

    Hiệu quả thấp của ứng dụng CNTT bằng vốn ngân sách - Những biểu hiện đặc trưng

    Chưa ai thống kê hàng năm ngân sách nhà nước dành cho CNTT là bao nhiêu. Chúng ta nói về ngân sách chi ra từ các kho bạc. Một số chuyên gia dự đoán con số này khoảng 500 - 600 tỷ đồng trong năm 2002 - đó là  tổng chi cho các đơn vị thụ hưởng ngân sách, khác với tổng chi tiêu cho CNTT của toàn xã hội (ước gấp 9 – 10 lần chi từ ngân sách, tức khoảng 4.500 – 5.000 tỷ đồng trong năm 2002).

    Trong số 500 – 600 tỷ nói trên ước tính: 100 tỷ cho công nghiệp CNTT, 100 tỷ cho đào tạo nhân lực CNTT và 300 – 400 tỷ cho ứng dụng CNTT. Đầu tư này chủ yếu cho các cơ quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể từ trung ương đến địa phương và không bao gồm đầu tư của các doanh nghiệp (DN) nhà nước.

    Một lần nữa cần nhắc lại, các số liệu trên đây là ước tính của chuyên gia, do đó có thể có sai số. Một trong các việc cần làm ngay là có được con số này từ các báo cáo chính thức của Kho Bạc và Bộ Tài Chính.

    Chi tiêu cho ứng dụng CNTT ở các DN nói chung là có hiệu quả, đặc biệt là các DN khu vực tư nhân, hoặc các DN có yêu cầu bức xúc về hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chi tiêu cho ứng dụng CNTT bằng vốn ngân sách thì bức tranh ít màu sáng hơn.

     

    Một Cái Được

    Cái được nhất của ứng dụng CNTT bằng ngân sách nhà nước là hầu như mọi văn bản của các cơ quan nhà nước đã được soạn thảo và in ấn bằng máy tính. Cũng có ý kiến phủ nhận ngay cả hiện tượng này, cho rằng máy tính chỉ được sử dụng thay máy chữ là rất lãng phí. Tuy nhiên, ngoài cái đó ra ứng dụng CNTT chưa mang lại kết quả quan trọng nào khác làm thay đổi về chất trong năng lực, hiệu quả quản lý và phục vụ của các cơ quan nhà nước, những giá trị tương xứng với khoản đầu tư bằng ngân sách.

     

    Hai Cái Yếu Đặc Trưng

    Hiệu quả đầu tư ngân sách cho ứng dụng CNTT còn thấp thể hiện rất đặc trưng ở hai hiện tượng sau đây.

    Một là, cho đến nay, những ứng dụng CNTT bằng vốn ngân sách ít quan tâm đến việc tích lũy thông tin. Trong một số ứng dụng, thông tin được tích lũy nhưng chất lượng nói chung là thấp hoặc chất lượng thông tin khá nhưng tài nguyên thông tin lại ít được sử dụng. Sau bao nhiêu đầu tư, chúng ta vẫn chưa có được dù là nền móng đầu tiên của một nền tảng thông tin vững chắc cho quốc gia, làm cơ sở cho những quyết định chiến lược cũng như công việc điều hành thường xuyên.

    Để dễ hình dung, ta lấy vài thí dụ. Tại Thái Lan hiện nay bất kỳ lúc nào Chính Phủ hay các bộ, các địa phương cần lấy số liệu về tình trạng dân cư là có ngay. Tại Singapore cũng vậy,  bất kỳ lúc nào Chính Phủ cũng có thể có ngay các số liệu về các DN, các số liệu về số lượng và giá trị công sản của toàn quốc cũng như từng cơ quan chính phủ. Các số liệu dân cư, DN, công sản vừa nói đến là số liệu cập nhật tức thời chứ không phải là một cuộc điều tra. Chúng ta thì chưa có được một cơ sở dữ liệu (CSDL) nào giống như những gì vừa nói ở Thái Lan, Singapore. Mặt khác ta lại thấy nhiều ứng dụng cục bộ tại các bộ, ngành, địa phương tạo ra các dữ liệu chồng chéo lên nhau, điển hình là các loại bản đồ số của một số nơi, các số liệu về DN, v.v... Như vậy chúng ta vẫn không có một CSDL quốc gia nào tạm gọi là hoàn chỉnh.

    Trong chương trình quốc gia về CNTT giai đoạn 1996 – 2000 đã nêu vấn đề các CSDL quốc gia và đầu tư không ít để thu được một chồng tài liệu tạm gọi là nghiên cứu khả thi (thực sự là không khả thi!) về 6 CSDL quốc gia. Khi làm kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT giai đoạn 2001 – 2005, Ông Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Bộ KHCNMT, người phụ trách công việc soạn thảo kế hoạch tổng thể cũng nêu lại vấn đề xây dựng 6 CSDL quốc gia như một hạng mục quan trọng trong nhóm các dự án về ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, tác giả bài này, người thời kỳ đó được Bộ KHCNMT giao trách nhiệm trưởng nhóm biên tập lại kế hoạch tổng thể trước khi trình Chính Phủ đã cùng cả nhóm thuyết phục Ông Chu Hảo là chưa nên nêu lại câu chuyện này từ kinh nghiệm của thời kỳ 1996 – 2000. Không phải vì nhóm biên tập không nhận ra tầm quan trọng chiến lược của các CSDL quốc gia mà bởi vì chúng tôi biết rằng nhận thức về tầm quan trọng và độ phức tạp đối với công việc này ở nước ta còn rất xa để có thể đảm bảo các CSDL quốc gia được xây dựng thật sự như ở Thái Lan, Singapore. Chỉ cần tổ chức 1 CSDL quốc gia thôi chứ không nói đến 6 CSDL cũng đã đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn cả về tài chính, cả về tổ chức và các mặt khác. Nói đến 6 CSDL quốc gia cùng một lúc đã chứng tỏ hình dung chưa đúng sự phức tạp của chúng và một khi không nhận dạng đúng cái mình định làm thì nguy cơ thất bại là rất lớn. Ông Chu Hảo đã đồng ý với đề xuất của nhóm biên tập. Do đó chúng ta thấy trong kế hoạch tổng thể 2001–2005 không nêu lại vấn đề 6 CSDL quốc gia, mặc dù đó là cái đặc trưng nhất của hiệu quả ứng dụng CNTT mà các quốc gia khác đã tạo dựng được. 

    Như vậy ứng dụng CNTT chưa tạo ra được nguồn lực mới cho quốc gia là nguồn lực thông tin. Ở các bộ, ngành, địa phương, tình trạng cũng không khác mấy.

    Hai là, trên căn bản các cơ quan quản lý vẫn vận hành bộ máy, vẫn phục vụ người dân, phục vụ các doanh nghiệp như khi chưa có CNTT. Dĩ nhiên cũng đã có nơi thay đổi được ít nhiều nhưng là cá biệt. Những biểu hiện dễ thấy là không mấy nhà lãnh đạo đòi hỏi thông tin thường xuyên trong công việc của mình (mà thật ra có đòi hỏi cũng không có do yếu kém thứ nhất đã trình bày trên) và phần lớn các nhà quản lý cũng chưa quen với việc phân tích thông tin trong quá trình điều hành và ra quyết định. Nạn giấy tờ sao chụp không hề giảm mà còn tăng đáng kể. Các quy trình hành chính vẫn là mối lo của mọi người dân khi tiếp xúc với các cơ quan công quyền do thủ tục, do trình độ và cả do đạo đức hành chính.

    Như vậy, ứng dụng CNTT chưa tạo ra phương thức mới trong vận hành của nội bộ bộ máy hành chính và càng chưa tạo được những chất lượng mới trong dịch vụ cho người dân.

    Vì sao hai yếu kém rất đặc trưng trên cứ tồn tại như vậy bao lâu nay? Khắc phục chúng bằng cách nào?

    Chúng tôi xin bàn những ý này trong số 4/2003.

    Tuy nhiên tại đây xin nêu ngay ý nghĩ đầu tiên về nguyên nhân chủ quan hàng đầu. Đó là bao lâu nay chúng ta thiếu hẳn sự lãnh đạo đủ tầm quốc gia về ứng dụng CNTT. Các nước còn tạm thời đi sau ta như Cam Pu Chia, đang ở trước ta không xa như Trung Quốc, Thái Lan hay ở tít xa phía trước như Hàn Quốc, Nhật Bản, v.v... đều xem đây là việc rất khó, rất hệ trọng. Thường là Thủ Tướng hoặc Phó Thủ Tướng của họ đang trực tiếp điều hành việc lớn này trong nhiều năm nay cùng với những cơ quan rất mạnh được tổ chức ra chuyên cho công việc này. Chúng ta cần làm như họ hoặc hơn họ thì mới có thể đạt được những cái họ đã tạo dựng.

     

    Nguyễn Trọng

    ID: B0303_17