• Thứ Hai, 31/01/2005 16:22 (GMT+7)

    Tin học hóa trong cơ quan Nhà Nước: "Nhạc trưởng " phải là lãnh đạo

    Năm 2005 là năm bản lề của giai đoạn phát triển 2006-2010, được dự báo là giai đoạn phát triển cực thịnh của nước nhà trên nhiều lĩnh vực. Hơn lúc nào hết, hiện đại hoá quản lý nhà nước lúc này trở thành một yêu cầu khách quan. Nhưng do đối tượng tác động của tin học hoá là cơ chế quản lý, vốn ngoài "tầm với" của người làm công nghệ, nên vai trò người lãnh đạo trở nên rất quan trọng trong tin học hóa.


    Năm 2005 là năm bản lề của giai đoạn phát triển 2006 - 2010, được dự báo là giai đoạn phát triển cực thịnh của nước nhà trên nhiều lĩnh vực. Hơn lúc nào hết, hiện đại hóa quản lý nhà nước lúc này trở thành một yêu cầu khách quan. Nhưng do đối tượng tác động của tin học hóa là cơ chế quản lý, vốn ngoài "tầm với" của người làm công nghệ, nên vai trò người của lãnh đạo trở nên rất quan trọng trong tin học hoá

    Dự án tin học hoá (THH) thành công hay thất bại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: lãnh đạo (LĐ), nhân lực, khả năng đầu tư, công nghệ áp dụng, hạ tầng kỹ thuật... Trong đó, vai trò của LĐ là quan trọng nhất. Theo nhiều chuyên gia CNTT, vai trò của LĐ quyết định từ 60% đến 90% sự thành bại của dự án tin học. Cùng thử lý giải nhận xét này với ngầm định LĐ là người đứng đầu địa phương, bộ, ngành.

    Về mặt lý luận: THH trước tiên phục vụ trực tiếp cho LĐ. Nhiệm vụ chính của LĐ là ra quyết định, mà quyết định chỉ có thể đưa ra khi có thông tin. Cách thức tổ chức thông tin thủ công thường không đảm bảo cung cấp đủ, chính xác, kịp thời lượng thông tin mà LĐ cần trước khi ra quyết định. Từ đó dẫn đến quyết định có chất lượng chưa cao, hiệu quả quản lý thấp. THH là việc chuyển đổi cách tổ chức thông tin từ thủ công (trên giấy) sang số hóa (trên máy tính). Sự chuyển đổi kéo theo sự thay đổi quy trình cập nhật, xử lý và lưu trữ thông tin của người quản lý. Đây chính là thách thức lớn nhất của quá trình THH: người quản lý phải vượt qua chính mình, từ bỏ thói quen làm việc trong môi trường thông tin thủ công để tiếp cận và làm chủ công việc trong môi trường thông tin số hóa. Khi THH thành công thì người LĐ là người thụ hưởng nhiều nhất: có thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời để ra quyết định.

    Về mặt thực tiễn: Kết quả triển khai THH trong các cơ quan hành chính ở nước ta từ 1996 trở lại đây cho thấy ở TP.HCM (Sở Kế Hoạch Đầu Tư, Q.1, Q.Gò Vấp, Q.Bình Thạnh), TP Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Lào Cai, Đồng Nai, TP Phan Thiết... - những địa phương đạt kết quả THH nhất định - đều có sự chỉ đạo sát sao của LĐ. Tại Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Lào Cai, Đồng Nai, bí thư tỉnh ủy và chủ tịch UBND tỉnh chính là người trực tiếp đặt yêu cầu cụ thể, chỉ đạo giải quyết các vướng mắc để THH thực sự phục vụ những yêu cầu bức xúc nhất. Không có trường hợp nào thành công do tự phát cả!

    Như vậy cả về lý luận lẫn thực tiễn đều chứng minh LĐ có vai trò quyết định đến sự thành bại của quá trình THH.


    Vì sao LĐ vào cuộc lại thuận lợi?

    Trước tiên, chỉ có LĐ mới đưa ra được định hướng chính xác nhất. Mỗi địa phương, bộ, ngành, trong từng giai đoạn phát triển cụ thể có những điều kiện và cơ hội riêng mà chỉ có người LĐ mới nắm bắt được chính xác, toàn diện. Từ đó, đối với THH, họ đưa ra yêu cầu cụ thể cần phải thực hiện.

    Cũng chỉ có LĐ mới giải quyết được những khó khăn gặp phải khi triển khai các dự án tin học. THH là một quá trình tạo ra những cái mới trong tổ chức và xử lý thông tin; cuốn theo nó là sự thay đổi về cơ cấu tổ chức, quy trình và quy chế quản lý. Vì vậy, khi THH, hàng loạt vấn đề sẽ phát sinh mà chỉ có LĐ mới có đủ thẩm quyền giải quyết, nếu không mọi việc sẽ tắc nghẽn vì phải "chờ chỉ thị". Và chỉ có LĐ mới có thể điều hành các lực lượng trực tiếp và gián tiếp tham gia thực hiện THH. Những người khác, dù là cấp phó, cũng chỉ bao quát được một phần.

    Cuối cùng, nếu LĐ trực tiếp điều hành, chỉ đạo thực hiện THH thì mọi người đều theo đó làm gương. TS Nông Thị Ngọc Minh, phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng nhận xét thật chí lý: "Chỉ có LĐ mới làm thay đổi thói quen làm việc của đơn vị, những người khác trong đơn vị chỉ có thể thay đổi chính mình".

    Vì sao LĐ chưa mặn mà với THH?

    Lý do đầu tiên chỉ có thể là do quan niệm. Công tác tuyên truyền đã đưa đến cho LĐ quan niệm CNTT là một "công nghệ" chứ không phải là một "bản chất xã hội". Quan niệm này cần thay đổi! Chính Chỉ Thị 58 đã khẳng định "Phát triển CNTT ở nước ta là nhằm giải phóng trí tuệ của toàn dân tộc" và "CNTT là một trong các động lực chính phát triển xã hội". Những điều này dựa trên quan niệm CNTT là một bản chất xã hội: một xã hội có khả năng tổ chức thông tin bằng công nghệ.

    LĐ không mặn mà với THH còn do sự phát triển CNTT ở nước ta hơn 10 năm qua chưa thuyết phục. Tính từ khi có Nghị Định 49/CP (5/8/1993) đến nay, bức tranh CNTT Việt Nam không mấy sáng sủa so với nhiều nước trong khu vực cùng thời kỳ này như Singapore, Malaysia, Thái Lan. Nghị Định 49/CP chỉ ra rằng nhiệm vụ chính trong thập niên 90 của thế kỷ trước là "Xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin trong xã hội một cách vững chắc...", vậy mà bước sang 2005, kết cấu đó vẫn chưa hình thành.

       

    TRÊN TỔNG SỐ 64 TỈNH THÀNH, 23 BỘ NGÀNH hiện chỉ có khoảng hơn 10 đơn vị đạt được kết quả THH ở mức độ nhất định (xem thêm bài "Đội hình 112 tiêu biểu, TGVT B 12/2004, trang 11). Rõ ràng việc triển khai THH quản lý hành chính nhà nước hiện còn nhiều hạn chế và cần nhanh chóng cải thiện.

     

    Một lý do khác hơi đặc biệt là trong quá trình THH, các chuyên viên, trợ lý giúp việc cho LĐ trong bộ máy quản lý phải thay đổi thói quen và quy trình làm việc nhiều hơn LĐ. Tuy vậy, một số LĐ không thấy hết được những bức xúc, trăn trở của nhân viên dưới quyền. Cộng thêm công tác sự vụ níu kéo và quá nhiều cuộc họp đã làm phân tâm LĐ. Ngoài ra, tâm lý dè dặt ở nhiều vị LĐ còn do chính họ chưa từng sử dụng máy tính...

    Tất cả các lý do trên sẽ thay đổi ngay khi LĐ nhận ra CNTT giúp điều hành bộ máy dễ dàng hơn. Có thể mượn lời của chủ tịch UBND quận Gò Vấp TP.HCM Trần Kim Long để minh họa: "Với người LĐ, hệ thống tin học như một "máy phiên dịch" những yêu cầu của LĐ thành các quy trình vận hành, đáp ứng yêu cầu đó. Vai trò của LĐ trong THH là biết đặt yêu cầu và kiểm tra kết quả thực hiện".


    Nguyễn Tuấn Hoa
    Viện KH&CN Việt Nam

     

    ID: B0502_21