• Thứ Hai, 04/07/2005 16:54 (GMT+7)

    Triển khai dự án CNTT Nhà Nước: 7 vướng mắc và 3 giải pháp

    Qua quá trình khảo sát tình hình triển khai các dự án CNTT tại TP.HCM, một nhóm chuyên gia tư vấn đã chỉ ra những vướng mắc tồn tại cũng như đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ đầu tư hiệu quả CNTT tại TP.HCM nói riêng và khu vực nhà nước nói chung.

    Qua quá trình khảo sát tình hình triển khai các dự án CNTT tại TP.HCM, một nhóm chuyên gia tư vấn đã chỉ ra những vướng mắc tồn tại cũng như đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ đầu tư hiệu quả CNTT tại TP.HCM nói riêng và khu vực nhà nước nói chung.

    7 VƯỚNG MẮC

    1. Lãnh đạo không tham gia vào quá trình đổi mới quy trình. Hiện nay, việc đề xuất và xây dựng các dự án THH mới chỉ có các chuyên gia tư vấn kỹ thuật tin học và một số ít cán bộ phụ trách CNTT tại các đơn vị được khảo sát tham gia. Hầu như không có lãnh đạo phụ trách và chịu trách nhiệm đổi mới quy trình trong quản lý hành chính tham gia ý kiến trong quá trình khảo sát. Từ đó dẫn đến giải pháp PM đề xuất không phù hợp quy trình cải cách hành chính cần phải đổi mới. Hệ quả là quy trình được THH lại không phải là quy trình sẽ được ứng dụng thường xuyên, không phát huy tác dụng.

    2. Không có hướng dẫn lập dự toán các dự án tin học (ngoài hướng dẫn của Ban Điều Hành 112 Chính Phủ). Các dự toán hiện nay hầu hết phải bám theo quy chế xây dựng cơ bản, hoàn toàn không thích hợp cho dự án xây dựng PM. Việc thiết kế chi tiết trong xây dựng cơ bản hiện nay chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với tổng dự toán; trong khi công tác thiết kế chi tiết chiếm đến 40-50% công việc xây dựng PM; riêng đối với các PM được xây dựng bằng các công cụ chuẩn, công việc lập trình và thử nghiệm (thi công trong xây dựng cơ bản) chỉ chiếm 20-30%.

    3. Chưa tách bạch tư vấn và thiết kế PM. Thiết kế chi tiết PM là công việc phức tạp, cần có chuyên gia hoặc công ty chuyên nghiệp thực hiện và phải được coi như một thành phần của dự án được đấu thầu riêng biệt. Công việc này hết sức quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng PM và cần phải tách biệt ra khỏi công việc thi công. Tuy vậy, hiện nay một số dự án vẫn cho phép đơn vị tư vấn được tham gia phân tích thiết kế và thiết kế chi tiết, sau đó thực thi (thi công) PM!

    4. Thiếu nhạc trưởng. Quản lý và triển khai các dự án CNTT của thành phố chỉ mới dừng ở mức quản lý kế hoạch, chủ trương và quy trình thẩm định, phê duyệt đầu tư mà chưa có sự tư vấn công nghệ và cải cách hành chính độc lập. Thành phố cũng chưa có các ban quản lý dự án đủ mạnh, và quan trọng nhất là chưa có MỘT NHẠC TRƯỞNG có trình độ và kinh nghiệm ứng dụng CNTT, có năng lực quản lý và uy tín trong giới CNTT để điều phối chung các hoạt động.

    5. Dự án công nghệ thực hiện rời rạc, thiếu kết nối. Các dự án CNTT đang được thực hiện rời rạc, không đồng bộ, không có khả năng tích hợp. Chẳng hạn tại TP.HCM:

    Các dự án THH 112 cấp thành phố do Trung Tâm Tin Học thuộc Văn Phòng HĐND & UBND Thành Phố điều hành và triển khai.

    Các dự án THH 112 cấp quận huyện và dự án CNTT khác do Sở BCVT điều hành và triển khai.

    Các dự án về GIS cấp thành phố do Trung Tâm GIS thuộc Sở KHCN điều hành và triển khai.

    Dữ liệu bản đồ nền GIS do Sở Tài Nguyên Môi Trường quản lý.

    Các chuyên gia tư vấn cho các dự án thành phố hiện nay hoàn toàn độc lập trong từng dự án, không được cập nhật thông tin về các dự án khác. Còn cán bộ chịu trách nhiệm quy trình QLHC lại không thể biết các PM khác làm gì, ra sao, có trùng lắp hay không.

    6. Thiếu công cụ dùng chung. Hiện nay, việc quản lý đăng nhập, phân quyền cho người sử dụng là việc bất kỳ PM nào cũng làm và mất khoảng 5 ngày thiết kế, 30 ngày thi công, 5 ngày kiểm định. Nếu bất kỳ dự án nào cũng làm lại công việc này, thì 72 dự án của chúng ta sẽ mất 72x40=2.800 ngày công! Một chi phí khá lớn. Tuy nhiên hiện nay chúng ta không có dự án nào làm “các công cụ dùng chung” nên làm đi làm lại một việc theo nhiều phương án khác nhau, làm tăng độ phức tạp và chi phí.

    7. Chưa có quy định thực hiện tích hợp hệ thống, nâng cấp thường xuyên, tích hợp và cung cấp các dịch vụ công, bảo hành bảo trì sau khi hết hợp đồng thực thi PM. Một hệ thống PM không có đầu vào, không được tích hợp với các PM khác, không được nâng cấp, không có khả năng thu phí thông qua dịch vụ công sẽ chết yểu. Chính vì thế cần có cơ chế thu phí dịch vụ cài đặt, nâng cấp và bảo trì hàng năm cho PM.

    3 GIẢI PHÁP TĂNG TỐC DỰ ÁN CNTT

    1. Nhanh chóng ban hành “hướng dẫn quy trình xây dựng dự án CNTT”

    Mô hình chuẩn của một dự án ứng dụng CNTT thường được chia làm nhiều giai đoạn, tạm gọi là tiền khả thi, khả thi, thực hiện và bảo trì, nâng cấp.

    Giai đoạn tiền khả thi. Xuất phát từ kết quả ứng dụng CNTT và nhu cầu hiện tại, các mô hình và sản phẩm, công nghệ có thể ứng dụng vào dự án để dự kiến kế hoạch nghiên cứu khả thi, triển khai... Sau đó đề xuất cho lãnh đạo quyết định.

    Hiện nay chúng ta chưa chú trọng thực hiện công việc ở giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi này, dẫn đến khối lượng công việc tăng, mục tiêu chưa hiện thực, kinh phí dự kiến thiếu chính xác, gây khó khăn trong việc đề xuất giải pháp.

    Nghiên cứu hiện trạng và đổi mới quy trình hành chính hiện hành là công việc mà các chủ dự án (cùng đơn vị tư vấn) cần phải thực hiện ở giai đoạn này thì trên thực tế lại không được thực hiện, dẫn đến việc các đơn vị tư vấn tùy tiện đặt ra những đổi mới, chỉnh sửa không hợp lý về mặt quy trình, thủ tục.

    Giai đoạn nghiên cứu khả thi. Tập trung vào việc ứng dụng công nghệ, hiện trạng & lộ trình tổng thể của quá trình THH, các yêu cầu và chi tiết về việc đổi mới để chỉnh sửa ngay các quy trình hiện hành đã được xác định trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi. Từ đó đề xuất thiết kế hệ thống và giải pháp công nghệ phù hợp. Kết quả của công việc này là giải pháp khả thi và tổng dự toán, dựa trên thiết kế chức năng hệ thống, gồm chi phí phần cứng, công cụ PM, ước lượng loại và nhân công.

    Giai đoạn đấu thầu. Được thực hiện dựa trên thiết kế hệ thống và các chi phí đã ước tính trong giai đoạn nghiên cứu khả thi. Cần tổ chức đấu thầu thiết kế, thực hiện thiết kế và nghiệm thu thiết kế. Tiếp đó là công việc đấu thầu thực thi, thực thi, triển khai thí điểm, nghiệm thu và triển khai diện rộng, tiến hành cài đặt và đào tạo. Đơn vị thực hiện thiết kế phải thực hiện bảo hành, chỉnh sửa thiết kế cho cả giai đoạn thực thi; đơn vị thực thi phải thực hiện việc triển khai thí điểm, đào tạo, cập nhật PM.
    Toàn bộ dự toán cho dự án, từ nghiên cứu tiền khả thi, khả thi, triển khai... cần được xác định rõ ràng loại và số lượng chuyên gia, kỹ sư tin học cần có cũng như dự toán chi phí nhân sự. Bảng dưới đây đề xuất các vị trí cần có đối với dự án CNTT và tỉ trọng chi phí (tham khảo trên mô hình các công ty PM - xem bảng đề xuất nhân lực).

    2. Cải tiến quy trình thẩm định phê duyệt dự án CNTT

    Hiện nay, quy trình xây dựng dự án, thẩm định và phê duyệt PM đều không chuẩn hoặc không có hướng dẫn. Tuy nhiên chúng ta khó có thể điều chỉnh các quy trình này trong một thời gian ngắn.

    Việc cần làm ngay là phải điều chỉnh từng bước, khai thông từng bước các vướng mắc về thủ tục quy trình (ví dụ yêu cầu về thiết kế chi tiết và tổng dự toán), song song với thực hiện việc chuẩn hoá các quy trình dự án PM (đấu thầu, tách rời thiết kế với thi công,...), đồng thời bắt buộc thực hiện nghiên cứu tiền khả thi với các dự án chưa bắt đầu hoặc các dự án còn nhiều vấn đề.

    Thành lập nhóm chuyên gia tư vấn, cử ngay một “nhạc trưởng” đủ trình độ và năng lực về CNTT để làm công tác thẩm định, điều phối, và chịu trách nhiệm về mặt chuyên môn nhằm tham mưu cho Thường Trực Ủy Ban, Thành Ủy TP.HCM.

    3. Quyết tâm hơn trong ứng dụng CNTT

    Thành phố chưa phải trả giá cho sự lãng phí về đầu tư CNTT nhưng đang trả giá cho việc “chậm thực hiện ứng dụng CNTT”. Nói cách khác chúng ta đang trả giá về thời gian và sự tụt hậu của thành phố, vì quá đắn đo, quá chậm chạp, không quyết tâm trong thực hiện ứng dụng CNTT. Bốn năm đã qua mà thành phố chưa xây thêm được công trình đáng kể nào và đang lúng túng trong triển khai ứng dụng CNTT.

    Để tiếp tục phát triển, tăng cường cải cách hành chính, cung cấp các dịch vụ công qua mạng, tạo sự thông thoáng, thu hút đầu tư, chúng ta phải nâng cao năng lực quản lý, điều hành, nhất thiết phải áp dụng CNTT. Việc mua sắm thiết bị máy móc vi tính, thiết bị viễn thông chỉ giải quyết được vấn đề thông tin liên lạc, THH quy trình soạn thảo, lưu trữ văn bản chứ không thay đổi được về mặt bản chất các vấn đề hiện nay là cần có các PM xứng đáng.

    Diệp Văn Sơn (Bộ Nội Vụ - cơ quan thường trực phía Nam)
    và nhóm chuyên gia tư vấn các dự án CNTT TP.HCM

    ID: B0507_20