• Thứ Sáu, 05/08/2005 10:25 (GMT+7)

    4 mũi đột phá

    Cần tạo ra đột phá trong 4 lĩnh vực là: quản lý nhà nước, phát triển kinh tế để hội nhập, phổ cập CNTT trong xã hội và trong chính ngành CNTT.

    Bên cạnh dự thảo kế hoạch phát triển CNTT-TT giai đoạn 5 năm 2006-2010 do Bộ BCVT thực hiện, một số chuyên gia CNTT cũng vào cuộc đề xuất cách thức tạo các mũi đột phá cho CNTT-TT VN. Chúng tôi giới thiệu với bạn đọc một trong những ý kiến đó.

    Cần tạo ra đột phá trong 4 lĩnh vực là: quản lý nhà nước, phát triển kinh tế để hội nhập, phổ cập CNTT trong xã hội và trong chính ngành CNTT.

    Trong quản lý nhà nước

    Ứng dụng CNTT phục vụ hiện đại hóa quản lý nhà nước (QLNN), hướng đến xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT) nên ưu tiên trước tiên. Từ 1996 đến 2005, nỗ lực tin học hóa quản lý hành chính nhà nước (THH QLHCNN) vẫn chưa mang lại kết quả đáng kể.

    Thách thức lớn nhất với THH QLNN là tin học phải tạo ra chỗ dựa là phương tiện làm chuyển dịch cơ chế QLNN từ nền quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp (vốn đã hình thành từ nhiều chục năm qua với phương thức tổ chức và xử lý thông tin thủ công) sang cơ chế quản lý hiện đại, hướng đến người dân, trong suốt, xây dựng dựa trên phương thức tổ chức và xử lý thông tin số hóa (mà thế giới gọi chung là CPĐT). Về bản chất, đây là một cuộc cách mạng QLNN từ phương thức thủ công sang phương thức số hóa. Vì vậy, chỉ THH thôi không đủ mà phải đi đôi với cải cách hành chính (CCHC), tái cấu trúc tổ chức bộ máy chính phủ.

    Trong nhiều năm qua, sự tách biệt giữa CCHC và THH là nguyên nhân chính hạn chế kết quả THH. Thực chất, CCHC và THH là hai yếu tố tác động tương hỗ nhau: CCHC nghiên cứu chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ chế và các quy trình QLNN; THH nghiên cứu tổ chức và xử lý thông tin số hóa phục vụ triển khai các quy trình QLNN. THH không có CCHC thì không có chỗ dựa pháp lý để phát triển ứng dụng, còn CCHC không có THH là cải cách “chay”, không theo kịp thời đại vì chỉ quanh quẩn trong phương thức tổ chức thông tin thủ công.

    Do đó, để hiện đại hóa hoạt động của bộ máy nhà nước, cần gắn kết hai nửa này với nhau. Về tổ chức, đồng nghĩa với việc sát nhập Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CCHC với Ban Điều Hành THH QLHCNN. Khi đó, hiện đại hóa QLNN có thể mô tả theo từng bước phát triển như trong bảng cuối bài.

    Sự chuyển biến của cơ chế dưới tác động THH là quá trình không đơn giản, không đốt cháy giai đoạn. Sức ỳ lớn nhất là khó thay đổi thói quen. Trong bảng cuối bài, chỉ ở bước thứ 5 mới có hình ảnh thật của chính phủ điện tử (trên thế giới, để đến được mức này, nhiều quốc gia phải mất 30 năm).

    Trong phát triển kinh tế

    Mức độ ứng dụng CNTT trong nền kinh tế hiện nay có thể tóm tắt ngắn gọn như sau (theo hội thảo về TMĐT tại TP.HCM, 29/6/2005): Dưới 10% doanh nghiệp (DN) có website (trong đó đa phần là hình thức), khoảng 15% DN sử dụng email, dưới 1% sử dụng giao dịch điện tử, 90% chưa có nhận thức về thương mại điện tử (TMĐT), Việt Nam đứng hàng thứ 9/10 về sẵn sàng TMĐT ở khu vực Đông Á.

    Hiện nay, trình độ ứng dụng CNTT quyết định năng lực cạnh tranh của các DN. DN nào biết cách khai thác Internet và ứng dụng CNTT có lợi nhất cho mình sẽ chiếm thế thượng phong trong kinh doanh. Từ đây có thể thấy ngay khâu đột phá trong công nghệp hóa hiện đại hóa (CNH, HĐH) nền kinh tế liên quan chặt chẽ đến Internet, đó là TMĐT. Nhờ TMĐT, người ta có thể thực hiện giao dịch điện tử và thanh toán điện tử trên phạm vi toàn cầu. Chúng tôi sẽ có riêng một bài trình bày về vấn đề này, mời bạn đọc xem trong số sau TGVT - PCW B 9/2005.

    Trong xã hội hóa CNTT

    Đối tượng chính thụ hưởng các kết quả phát triển CNTT là người dân. Lực lượng quyết định sự phát triển CNTT trực tiếp hay gián tiếp cũng là quảng đại quần chúng (public). Do đó, xã hội hóa CNTT và Internet đóng vai trò vô cùng quan trọng,là con đường nâng cao dân trí nhanh nhất, tiện lợi nhất và kinh tế nhất. Một trong những mạng chia sẻ tri thức nổi tiếng nhất hiện nay trên thế giới là GDLN (global development learning network, mạng học tập phát triển toàn cầu do WB đề xướng,
    http://www.gdln.org) .

    Ở nước ta, việc đột phá trong xã hội hóa CNTT là tạo điều kiện cho mọi công dân đều có thể truy cập dễ dàng vào Internet và các mạng thông tin phổ biến tri thức. Có nhiều cách làm khác nhau như kết nối các trung tâm học tập cộng đồng với nhau qua Internet; lập mạng intranet phổ biến thông tin khoa học công nghệ đến vùng sâu, vùng xa; miễn phí kết nối Internet băng thông rộng đến trường học, phổ cập Internet trong thanh thiếu niên; phát triển Internet gia đình, lập mạng lưới kiôt thông tin, bưu cục văn hóa xã kết nối với website của tỉnh, thành phố... đi đôi với phát động phong trào toàn dân sử dụng Internet.

    Trong chính ngành CNTT

    Đột phá ngay trong chính ngành CNTT là chìa khóa đảm bảo thực hiện các đột phá khác nêu trên nói riêng và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong xã hội nói chung.

    Ngành CNTT có ba lĩnh vực: phần mềm (PM), phần cứng (PC) và dịch vụ CNTT. Hiện có hai quan điểm khác nhau về đối tượng đột phá. Quan điểm thứ nhất: cần tập trung vào công nghiệp PM (với gia công PM làm chủ lực trong thời gian trước mắt) nhằm nâng tốc độ phát triển ngành CNTT nói chung lên cao hơn 35%/năm. Quan điểm thứ hai dựa vào căn cứ đã được chỉ ra trong Chỉ Thị 58, cụ thể là CNTT phải tạo ra sự phát triển đột phá trong những ngành kinh tế trọng điểm như tài chính, thương mại, giao thông, đào tạo lao động trình độ cao... Chúng tôi nghiêng về quan điểm thứ hai. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành CNTT tạo ra ứng dụng chuyên nghiệp trong các lĩnh vực nêu trên vừa góp phần tích cực tăng trưởng GDP nói chung, vừa thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH và tạo thế phát triển ổn định, bền vững.

    Như vậy, nhiệm vụ đặt ra trước tiên là xác định bức tranh tổng thể về kinh tế xã hội đến 2020 với những chỉ tiêu phấn đấu của các ngành kinh tế trọng điểm, từ đó xác định nhu cầu ứng dụng CNTT của chúng và tập trung phát triển ngành CNTT đáp ứng các yêu cầu đó như một cách đột phá.

    Thay lời kết

    Kể từ 1993, sau khi có Nghị Định 49/CP của Chính Phủ về phát triển CNTT, nói một cách thẳng thắn, chúng ta chưa có chương trình phát triển CNTT nào đạt được kết quả xứng tầm với yêu cầu của xã hội (ít nhất cũng ngang hàng với dự án “Xây dựng đảo quốc thông minh” của Singapore hay “Siêu hành lang đa phương tiện” của Malaysia). Bước vào giai đoạn 2006 - 2010, giai đoạn hội nhập và tăng tốc, chúng ta kỳ vọng vào sự phát triển mạnh mẽ của CNTT nước nhà với vai trò là động lực thật sự. Tất cả còn ở phía trước.

      BẢNG: ĐỀ XUẤT CÁC BƯỚC PHÁT TRIỂN HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  
      Bước     Tin học hóa     Cải cách hành chính     Kết quả  
      1     Cung cấp công cụ hỗ trợ thực hiện công việc nhưng không làm thay đổi cơ chế và quy trình (QT) quản lý.     Nghiên cứu những nhân tố mới do ứng dụng CNTT mang lại có thể cải tiến QT quản lý như thế nào. Đề xuất thử nghiệm 1 số QT có yếu tố mới.     Cán bộ trong bộ máy nhà nước thành thạo kỹ năng CNTT cơ bản: soạn văn bản, bảng tính, email, truy cập.  
      2     Xây dựng CSDL nền, phát triển 1 số ứng dụng theo QT cải tiến trong nội bộ đơn vị và mở rộng dần.     Phân tích đánh giá việc áp dụng các QT mới nhằm hoàn thiện chúng. Đánh giá khả năng sử dụng CSDL với các QT quản lý.     Cán bộ bắt đầu làm việc phối hợp theo quy trình được THH kết hợp với các công cụ ở bước 1.  
      3     Phát triển hệ thống các ứng dụng trong nội bộ đơn vị và theo chuyên ngành dọc dựa trên hệ thống CSDL được hình thành.     Nghiên cứu cải cách QT quản lý chuyên ngành (theo sở, ngành) và liên ngành (giữa các sở, ngành). Nghiên cứu thay thế các cơ chế lạc hậu bằng quy định mới.     QT truyền thống có THH và QT hoàn toàn THH cùng tồn tại song song, với xu hướng tỷ trọng THH tăng dần.  
      4     Hoàn thiện các hệ thống ứng dụng trong toàn bộ máy QLNN.     Hoàn thiện cơ chế quản lý và hệ thống các QT QLNN dựa trên kết quả THH. Nghiên cứu phát triển các khả năng mới do kết quả THH mang lại ở 4 cấp quản lý.     Bộ máy chuyển hoàn toàn sang hoạt động trên các hệ thống THH.  
      5     Phát triển các ứng dụng mới dựa trên sự tích hợp thông tin và các nguồn tài nguyên của chính phủ.     Nghiên cứu chính sách phát huy năng lực của chính phủ dựa trên các nguồn lực do CNTT tạo ra.     Bộ máy hoạt động hoàn toàn trong môi trường thông tin điện tử hiện đại và có tính hiệu quả cao.  

    Nguyễn Tuấn Hoa, Viện KHCNVN

    ID: B0508_29