• Thứ Năm, 03/11/2005 14:24 (GMT+7)

    Đề án 112: Báo cáo tổng kết giai đoạn 1

    Lần đầu tiên một báo cáo tổng kết về tình hình triển khai Đề Án 112 giai đoạn 1 được công bố chính thức từ Ban Điều Hành 112. Để đảm bảo tính chính xác, chúng tôi đăng nguyên văn bản đánh giá do ông Lương Cao Sơn, thư ký BDH viết riêng cho TGVT (có một số ý trùng với bài phỏng vấn). Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

    Lần đầu tiên một báo cáo tổng kết về tình hình triển khai Đề Án 112 giai đoạn 1 được công bố chính thức từ Ban Điều Hành 112. Để đảm bảo tính chính xác, chúng tôi đăng nguyên văn bản đánh giá do ông Lương Cao Sơn, thư ký BĐH viết riêng cho TGVT (có một số ý trùng với bài phỏng vấn). Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

    Ngay sau khi Thủ Tướng Chính Phủ ban hành Quyết Định số 112/2001/QĐ-TTg và Quyết Định số 137/2001/QĐ-TTg, Ban Điều Hành Đề Án 112 đã tích cực chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời, thường xuyên kiểm tra các bộ, tỉnh tổ chức thực hiện Đề Án 112 theo Quyết Định 112/TTg. Việc triển khai nhiệm vụ tin học hóa quản lý hành chính được tiến hành đồng đều tại tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương và 51 cơ quan trung ương (bao gồm cả Văn Phòng Chủ Tịch Nước, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao).

    Trong 4 năm qua, Ban Điều Hành Đề án 112 đã phối hợp với các bộ, tỉnh triển khai nhiệm vụ được giao và đạt được những kết quả chủ yếu sau đây:

    - Tạo ra một phương thức làm việc mới có sử dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ công chức nhà nước.

    - Nâng cao một bước đáng kể trình độ quản trị mạng của đội ngũ tin học chuyên trách (kỹ sư tin học và tương đương) và kỹ năng sử dụng mạng, cập nhật – khai thác – quản lý các hệ thống thông tin điện tử của đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính sự nghiệp.

    - Lần đầu tiên thiết lập được hệ thống thông tin điện tử trong cả nước, hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chính Phủ, bao gồm trung tâm tích hợp dữ liệu của các bộ, các tỉnh, mạng cục bộ (LAN) của mỗi cơ quan thuộc cơ cấu bên trong của bộ, tỉnh, mạng diện rộng liên kết các hệ thống tin học của bộ, tỉnh. Trong đó điểm hội tụ của toàn hệ thống là cổng thông tin điện tử chính phủ.

    Hệ thống thông tin điện tử của các bộ, tỉnh đã bắt đầu đưa vào vận hành, các phần mềm ứng dụng tin học hóa quản lý hành chính nhà nước đã bắt đầu cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo của bộ, tỉnh và Thủ Tướng Chính Phủ. Về cơ bản, kết quả đạt được đã phục vụ trực tiếp cho công tác chỉ đạo điều hành của các cơ quan cấp bộ, cấp tỉnh.

    - Gần 45.000 công chức hành chính được đào tạo cơ bản về tin học để vận hành hệ thống thông tin điện tử đang triển khai tại các bộ, tỉnh. Hầu hết cán bộ tin học quản trị mạng của các bộ, tỉnh đã được đào tạo tin học theo chuẩn của Đề Án 112.

    - Hình thành hệ thống tổ chức quản lý, điều hành thực hiện Đề Án Tin Học Hóa Quản Lý Hành Chính Nhà Nước từ Trung Ương đến địa phương: Tất cả các bộ, tỉnh và các cơ quan trung ương khác (115 cơ quan) đều đã thành lập Ban Điều Hành Đề Án 112 và thành lập trung tâm tin học để triển khai Đề Án 112 của bộ, tỉnh.

    - Phối hợp với Bộ Tài Chính, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư xây dựng được một số chuẩn thông tin áp dụng cho dự án ứng dụng CNTT thuộc Đề Án 112 và đã được nhiều cơ quan khác ngoài phạm vi Đề Án 112 nghiên cứu áp dụng.

    - Ban Điều Hành Đề Án 112 CP đã tập hợp đội ngũ chuyên gia tin học và quản lý nhiều năm gắn bó và lao động tận tụy trong lĩnh vực tin học hóa quản lý hành chính nhà nước để phối hợp triển khai Đề Án 112.

    - Tạo ra nhu cầu và động lực cho các doanh nghiệp tin học phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp tin học vừa và nhỏ. Có 45 công ty tham gia xây dựng phần mềm; 200 công ty tham gia đào tạo; 18 công ty tham gia triển khai; hàng trăm công ty tham gia cung cấp thiết bị.

    Những kết quả chủ yếu trên đây của Đề Án 112 kết hợp với kết quả đạt được của đề án đổi mới phương thức điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước là những yếu tố cơ bản để triển khai giai đoạn II tin học hóa quản lý hành chính nhà nước và góp phần quan trọng xây dựng chính phủ điện tử của nước ta.

     

    ÔNG NGUYỄN ÁI VIỆT,
    PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG BAN CHỈ ĐẠO QUỐC GIA VỀ CNTT

    112 đã đặt tham vọng quá lớn

     
     

    Đề án 112 đã tạo được hệ thống trao đổi thông tin nhiều tầng, nhiều cấp, đạt được đết quả về mặt vĩ mô. Mặt làm được là đào tạo. Còn những mục tiêu cụ thể mà 112 đã đưa ra, theo tôi, nếu kinh phí có được giải ngân từ đầu năm 2000 cũng không thực hiện được, vì 112 đặt ra những vấn đề quá lớn. Có thể thấy những gì chưa làm được. Ví dụ, 112 hứa hẹn là có dịch vụ công, nhưng chưa có thời gian động đến mảng đó. Về vấn đề chuẩn hóa cũng bị chậm.
    Làm 112 rất khó. Có những vấn đề 112 không dám động tới. Đề Án 112 được viết ra với một tham vọng rất lớn, nhưng khi chạm vào thực tế rồi thì mới thấy có những việc không thể làm được. 112 chỉ là một nhánh trong cải cách hành chính (CCHC). Theo tôi, CCHC và tin học

     

     

     

     hóa là một quá trình tương tác. 112 hiện nay không đủ sức để vượt “rào” về hành chính, đi trước CCHC. Có những cái phải đợi CCHC để tương tác với nhau. Hiện nay, hai nhóm chuyên gia về CCHC và chuyên gia về tin học chưa thể “nói chuyện” được với nhau để tạo ra một chuẩn. Nói chính phủ điện tử hay tin học hóa phải đợi CCHC là đúng, nhưng mặt khác tin học hóa cũng góp phần thúc đẩy. Cứ dùng tin học đi sẽ thấy là cần phải thay đổi quy trình.
    Theo tôi, 112 không nói đến CPĐT, nhưng nếu xem nội dung thì thấy nó muốn làm CPĐT. Đấy là một việc lớn và rất khó hoàn thành. Tôi nghĩ, trong 5 năm tới, 112 nên tập trung làm sao ra được hệ thống thông tin phục vụ Thủ Tướng, phục vụ lãnh đạo.
    Làm sao cho Thủ Tướng khi cần thông tin về bưu chính viễn thông (BCVT) thì chỉ mở ra là thấy, không cần phải gọi bộ trưởng BCVT lên báo cáo (bộ trưởng lại phải gọi vụ A, vụ B, rồi các vụ lại giao cho chuyên viên tổng hợp...). Đấy cũng là một trong những cái 112 hứa mà chưa có. Nếu hệ thống giúp Thủ Tướng điều hành tốt hơn, ra quyết định nhanh hơn thì quan niệm của các vị lãnh đạo về CNTT sẽ khác hẳn. Đây là điều cốt tử đối với CNTT, chứ cứ nói làm tích hợp dữ liệu ở đâu đâu thì các vị lãnh đạo chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe thấy tiếng chê, như vậy sẽ không chú trọng đầu tư tiếp.

     

     

     

    Để đánh giá được một đề án như thế thì tính nghiêm túc phải rất cao, phải đo đếm được, phải cân nhắc các yếu tố môi trường, điều kiện, hoàn cảnh, chính sách, quản lý... Trong thời gian này có thể có những chuyển động, cho nên đánh giá vào lúc này có thể là hơi sớm.
    Tuy nhiên, qua nghiên cứu Đề Án và xem xét thực tế, tôi có rút ra một vài nhận xét mang tính cá nhân như sau: Những người được giao nhiệm vụ rất tâm huyết, nhưng phạm vi của 112 quá rộng lớn. Về không gian thì bao trùm cả quốc gia. Về nội dung thì bao gồm cả công nghệ lẫn cải cách hành chính, lại có cả dịch vụ công (phục vụ người dân), xây dựng CSDL của tất cả các cấp chính quyền, các bộ ngành... Nói cách khác, 112 về chiều sâu thì thay đổi cách làm việc, thay đổi tổ chức bộ máy, về chiều rộng thì đụng đến toàn dân. Trong khi đó, Đề Án thiếu một tổng công trình sư có đủ quyền, đủ năng lực để thực hiện. Quy mô, cách tiếp cận, hệ thống quản lý cũng chưa đầy đủ, tính liên kết kém. Ban Điều Hành Đề Án danh thì to nhưng bí trong khâu chỉ đạo. Nếu quy mô Đề Án lớn như thế thì bộ máy quản lý phải tương ứng. Bộ máy không được thiết lập từ trên xuống dưới nên khó thực hiện.
    Thành công tương đối của 112 là đào tạo, nhưng người được đào tạo về dùng được đến đâu lại là vấn đề. Tính chất của văn hóa mạng (workflows, email, điều hành công việc, xử lý văn bản trên mạng, forum, conference...) chưa ngấm vào hệ thống hành chính. Cải cách hành chính và tin học hóa chưa gắn được với nhau.
    Theo tôi, 112 cần được tổng kết một cách rõ ràng những gì được và chưa được, yếu mạnh thế nào, sẽ có được những gì...? Lãnh đạo phải hiểu đúng về vai trò, vị trí của Đề Án. Không thể rộng quá, kỳ vọng quá. Cũng không nên sợ hãi, cho rằng đổ tiền xuống sông. Hiện nay chúng ta đưa CNTT vào để tạo khả năng mới, thúc ép con người và nền hành chính nhanh nhạy, năng động hơn. CNTT đóng vai trò tàu kéo, cho nên ta phải trả học phí để bắt kịp thế giới. Tổ chức, cán bộ, đầu tư... cần rõ ràng, hỗ trợ về chức danh công chức, tiêu chuẩn cán bộ, có đủ quyền để thực hiện chứ cứ như ốc đảo thì khó.

     

     

     

    ÔNG NGUYỄN VĂN THẮNG, PHÓ TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO CNTT TỈNH LÀO CAIi :
    Chậm do kiểu quản lý tập trung

     
     

    “Chúng tôi đã có và xây dựng một kế hoạch triển khai tổng thể về công tác tin học hoá không chỉ dành cho quản lý nhà nước, mà còn dành cho thương mại điện tử, chính phủ điện tử và hàng loạt những mục tiêu CNTT khác của tỉnh nhà trong giai đoạn 2001-2010 trước khi Đề Án 112 được đưa lên vùng cao này. Ngay trong giai đoạn đó, tỉnh đã thành lập một ban chỉ đạo về CNTT của tỉnh và định hướng rõ rệt, tất cả những đề án, kế hoạch về phát triển CNTT của tỉnh sẽ phải theo định hướng kế hoạch tổng quan trên, kể cả Đề Án 112 hay Đề Án 47 sau này. Chúng tôi không thể phụ thuộc vào một đề án như 112 rồi mới phát triển nền CNTT của tỉnh nhà.
    Chúng tôi không phủ nhận ảnh hưởng và đường lối tích cực của Đề Án 112. Tuy nhiên, tôi cho rằng nếu chỉ dựa vào Đề Án 112 mà phát triển CNTT thì chắc phải 10 hoặc 20 năm nữa, những mục tiêu cơ bản nhất mới hoàn tất.

     

     

     

    Đặc biệt là đối với những tỉnh có điều kiện cơ sở hạ tầng CNTT còn thấp như Lào Cai. Tôi cho rằng mỗi địa phương cần chủ động tìm ra câu trả lời cho chính mình. Thực ra, có thể do Lào Cai đã rất chủ động trong việc lồng ghép Đề Án 112 với đề án phát triển tổng thể CNTT của tỉnh thì mới đạt được những bước như thế. Còn một số địa phương, cứ nhất nhất chỉ có 112 thì tiến độ rất chậm.
    Có khá nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới tiến độ 112. Cá nhân tôi cho rằng nó nằm ở cách quản lý theo kiểu tập trung, hợp tác xã cổ lỗ mà BĐH Đề Án 112 vẫn thực hiện. Có thể thấy ngay cách quản lý này qua một ví dụ điển hình là công tác đào tạo cán bộ nằm trong chương trình của 112. Mỗi học viên đi học theo chương trình của 112 tại Lào Cai đã phải ký tới hơn 60 chữ ký cho 2 tuần tập huấn của mình, mà tiền thanh toán cho trung tâm thì vẫn chưa thấy xuống. Chưa kể đến một quy định “không giống ai” là không được dạy buổi tối; nhưng hầu hết cán bộ đi học lại không thể nghỉ làm việc được, phải học vào buổi tối. Có thể thấy rõ sự bất cập của phương thức quản lý xưa cũ này.
    Tôi phải nói lại, 112 cứ như một hợp tác xã cũ kỹ ngày trước, và cứ kiểu này còn lâu những mục tiêu mà Đề Án đặt ra mới hoàn thành.”

     

    Lương Cao Sơn, thư ký ban điều hành

    ID: B0510_24