• Thứ Ba, 07/02/2006 10:22 (GMT+7)

    Mạng thông tin liên kết vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Làm sao tránh cảnh “cha chung”?

    Nếu không có cơ chế điều hành đủ mạnh, không giải quyết được tình trạng cát cứ thông tin, thì mạng thông tin liên kết vùng kinh tế trọng điểm (sắp xây dựng) khó tránh khỏi cảnh "hoang hóa".

    Tháng 9/2005, lãnh đạo 8 tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây - đã ký văn bản ghi nhớ hợp tác xây dựng mạng thông tin liên kết vùng (xem thêm bài viết "Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: liên kết phát triển" trên TGVT - PCW B 10/2005). Đây là sáng kiến giúp thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hỗ trợ quá trình xây dựng chính phủ điện tử tại các tỉnh, thành trong vùng. Tuy nhiên, làm thế nào để đạt hiệu quả cao không phải là chuyện đơn giản.

    Không tin vào sự tự nguyện

    Hiện nay, hầu như mỗi tỉnh, thành đều đã có website hoặc portal (gọi chung là website) riêng. Là "của riêng", nhưng việc coi sóc những website này bị lơ là, nhiều website có xác mà không có hồn vì thông tin không được cập nhật, không có dấu vết gì của sự tương tác, dù chỉ là hỏi đáp thông thường. Tình trạng nêu trên đã được "mổ xẻ” nhiều lần để tìm giải pháp, nhưng thực tế chỉ nhúc nhích rất chậm.

    Nói như thế để thấy vận hành một mạng chung của 8 tỉnh chắc chắn sẽ gặp nhiều thách thức, mặc dù cả 8 tỉnh đều cho rằng mạng này cần thiết, nếu thành công, sẽ phục vụ tốt cho kinh tế - xã hội và nhiều mặt khác. Thách thức lớn nhất là làm thế nào để mạng liên kết 8 tỉnh không phải chịu cảnh "cha chung không ai khóc". Theo kế hoạch hiện nay, các tỉnh chỉ tham gia theo hình thức tự nguyện, ai thấy có lợi thì tham gia, không có gì thật sự ràng buộc. Đưa thông tin lên mạng chung hiển nhiên là có lợi, nhưng giữ thông tin lại nhiều khi cũng sinh lợi riêng. Tình trạng cát cứ thông tin đang tồn tại khá phổ biến ngay giữa các cơ quan trong một tỉnh, chưa nói đến các tỉnh khác nhau.

    Tại một hội nghị bàn tròn cuối năm 2005 về kế hoạch xây dựng mạng thông tin liên kết Vùng Kinh Tế Trọng Điểm Bắc Bộ (VKTTĐBB), rất nhiều đại biểu đã băn khoăn về vấn đề này. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, trưởng phòng CNTT tỉnh Quảng Ninh đề nghị: trong cam kết triển khai kế hoạch này của các tỉnh, phải có tiếng nói của lãnh đạo tỉnh, cụ thể là phó chủ tịch tỉnh. Đại diện của tỉnh trong ban điều phối mạng thông tin liên kết cũng phải là phó chủ tịch tỉnh thì mới có thể chỉ đạo triển khai hiệu quả. Nếu tham gia ban điều phối mạng chỉ là cấp sở thì việc triển khai sẽ bế tắc, vì sở chỉ là một đơn vị, "không thiêng" khi cần tập hợp các đơn vị khác để thực hiện cam kết.

    Theo nhận xét của ông Bùi Thanh Tùng, phó giám đốc Sở Kế Hoạch và Đầu Tư (KH&ĐT) Hải Phòng, trong dự thảo kế hoạch hiện thời, công tác tổ chức ra sao, ai chịu trách nhiệm việc gì, đều chưa rõ. Nếu điều phối, bố trí không tốt thì việc cung cấp, cập nhật thông tin chắc chắn bị các địa phương chểnh mảng. Do đó cần có một sự liên kết, chỉ đạo chung.

    Tuy nhiên, lãnh đạo 8 tỉnh tham gia ban điều phối để chỉ đạo vẫn chưa đủ, cho dù Hà Nội và Hải Phòng có làm "đầu tàu". Đại diện Sở KH&ĐT Hà Nội cho rằng, tuy đây là công việc của 8 tỉnh, nhưng phải có Bộ Bưu Chính Viễn Thông (BCVT) cầm trịch! Ông Nguyễn Mạnh Hiến, phó giám đốc Sở BCVT tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị ghi rõ thành phần ban điều phối gồm lãnh đạo Bộ BCVT và phó chủ tịch UBND các tỉnh.

    Song như thế e vẫn chưa đủ. Dù Bộ BCVT có là cơ quan chỉ đạo, nhưng cơ chế thực hiện kế hoạch chỉ mang tính tự nguyện thì cũng rất ít hiệu lực. Cho nên, một số tỉnh đã đề nghị đưa việc xây dựng, vận hành mạng liên kết vùng KTTĐBB thành một chương trình chính thức của Nhà Nước, có quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ.

    Cần mục tiêu cụ thể hơn


    Việc hợp tác đa chiều rất khó. Nếu có mục tiêu cụ thể, rõ ràng kèm với một lộ trình chi tiết, khả thi thì việc thực hiện cũng như kiểm soát thực hiện sẽ thuận lợi hơn. Theo đại diện một số tỉnh, dự thảo kế hoạch xây dựng mạng thông tin liên kết VKTTĐBB chưa thể hiện tốt điều đó. Ông Ngô Sĩ Bích, phó giám đốc Sở KH&ĐT tỉnh Bắc Ninh cho rằng mục tiêu phải bám vào kế hoạch (về tài chính, con người, hạ tầng...) của các tỉnh vì không phải tỉnh nào cũng có mức độ sẵn sàng giống nhau. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, trưởng phòng CNTT UBND tỉnh Quảng Ninh lúng túng: "Tỉnh chúng tôi chưa có Sở BCVT, chưa có website nên nhìn vào mục tiêu thấy rất khó, không biết bắt đầu từ đâu. Vì thế, kế hoạch cần nêu rõ hơn từng bước đi như thế nào!".

    Theo ông Bùi Thanh Tùng, phó GĐ Sở KH&ĐT Hải Phòng: trong kế hoạch chưa rõ giai đoạn nào thì triển khai đến đâu, tận dụng dữ liệu có sẵn đến mức độ nào, cần bổ sung những gì mà Đề Án 112 chưa đề cập, các hệ thống tham gia mạng này như thế nào...? Cùng suy nghĩ đó, ông Nguyễn Mạnh Hiến, phó giám đốc Sở BCVT Vĩnh Phúc cho rằng, về lộ trình, trong năm 2006 nên hình thành thêm hệ thống thông tin thì mới có thể phát triển nội dung và cần đào tạo nguồn lực ngay để kịp thực hiện các mục tiêu lộ trình. "Về đào tạo nguồn lực, Hà Nội phải là hạt nhân", ông Ngô Sĩ Bích (Bắc Ninh) đề nghị đồng thời phải xác định rõ đối tượng ưu tiên phục vụ là các cơ quan nhà nước hay DN, nhà đầu tư, để có mục tiêu phù hợp. Ngoài ra, lộ trình của kế hoạch trong giai đoạn 1 (2006) đơn giản quá nên cần đưa thêm một phần của giai đoạn 2 (2007-2008) vào...

    Mặc dù nêu ra nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung, các tỉnh vẫn ý thức khá rõ lợi ích và sự cần thiết của mạng thông tin liên kết vùng và không bàn lùi. Đó là một trong những thuận lợi lớn khi thực hiện kế hoạch này. 

     

    LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI

     
     

    Giai đoạn 1 (2006)
    - Thiết lập hạ tầng liên kết, tập trung phát triển nội dung thông tin và các ứng dụng/dịch vụ cơ bản phục vụ hợp tác phát triển KTXH vùng (chủ yếu kế thừa nguồn tài nguyên hiện có của các tỉnh, thành trong vùng). Kết hợp chặt chẽ, kế thừa và bổ sung, hỗ trợ cho các dự án của Đề Án 112, các dự án của Bộ BCVT và quá trình cải cách hành chính.
    - Xây dựng và kiện toàn tổ chức, cơ chế hợp tác và đề xuất, dự trù ngân sách đầu tư phát triển chi tiết cho các giai đoạn sau.

    Giai đoạn 2 (2007-2008)
    - Đầu tư xây dựng hạ tầng thiết bị, viễn thông và nhân lực quản lý riêng.
    - Phát triển các ứng dụng/dịch vụ và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung toàn vùng.
    - Xây dựng hệ thống thông tin KTXH tổng hợp VKTTĐBB phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước, hỗ trợ hoạch định chính sách cho lãnh đạo các cấp tỉnh, thành, trung ương.
    - Phục vụ DN, doanh nhân và các nhà đầu tư thông qua việc cung cấp thông tin và tạo lập môi trường giao tiếp với chính quyền, môi trường giao dịch, hợp tác, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử.

    Giai đoạn 3 (2009-2010)
    - Phát triển các ứng dụng/dịch vụ giá trị gia tăng
    - Tạo lập nền tảng không gian điều khiển cho toàn vùng.
    (Trích đề cương thảo luận kế hoạch xây dựng mạng thông tin liên kết VKTTĐBB)

     

    Nguyễn Hưng

    ID: B0602_18