• Thứ Bảy, 01/07/2006 13:29 (GMT+7)

    Thất bại, hay không đạt mục tiêu?

    Chúng ta còn nhớ, chương trình quốc gia (CTQG) về CNTT của Chính Phủ được thực hiện trong 3 năm 1996 - 1998, đã kết thúc không kèn không trống, mặc dù theo Nghị Quyết 49/CP thì nó phải “sống” đến năm 2000. Và rồi, ĐA 112 gần như lặp lại những tồn tại, yếu kém của chương trình đó. CTQG về CNTT trước đây có lưu ý đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT cùng với việc chuyển giao, nâng cao nhận thức về CNTT và ứng dụng CNTT, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN). Công việc của ĐA 112 cũng vậy. Có thể 112 nêu vấn đề rõ ràng hơn, nhưng dường như do tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng nhiều nên đã ngốn một lượng tiền tương đối lớn trong khi hiệu quả khai thác không song hành. Bộ, ngành, địa phương nào cũng xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu (TTTHDL), nhưng trong đó có dữ liệu gì thì vẫn là chuyện nan giải. Tiếp đó là hàng loạt website, portal được xây dựng và khai trương khá hoành tráng, nhưng thực tế hoạt động thế nào cũng nên xem lại. Tất nhiên, cần nhìn nhận là có những nơi đã làm tốt.

    Triển khai ĐA 112 bao gồm cả xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo CNTT cho đội ngũ cán bộ, công chức và đưa vào vận hành hệ thống thông tin điều hành (HTTTĐH) của Chính Phủ. Trên thực tế, việc triển khai đã đạt được kết quả như thế nào? Sẽ là không đúng nếu chúng ta nghĩ ĐA 112 thất bại, mà nên thấy nó đã không đạt được những mục tiêu đề ra. Có lẽ những gì người ta kỳ vọng ban đầu không phù hợp với thực tế và khả năng thực hiện!

    Đầu năm 2002, PC World VN có loạt bài nhận định về CTQG về CNTT giai đoạn 1996 – 1998 và cảnh báo việc triển khai ĐA 112. Quá trình triển khai ĐA 112 phần nào đã diễn ra như những cảnh báo đó. Vậy theo ông, Ban Điều Hành (BĐH) ĐA 112 có hạn chế gì và lẽ ra họ cần phải làm gì?

    Khi ĐA 112 bắt đầu triển khai, những cảnh báo của PC World VN về “cái chết hệ thống” xuất phát từ một nền hành chính (HC) yếu kém là rất có giá trị. Lẽ ra, BĐH ĐA 112 có thể làm được nhiều việc có hiệu quả hơn nếu họ thiện chí đón nhận những cảnh báo đó và tổ chức đối thoại rộng rãi để tìm biện pháp triển khai phù hợp. Rất tiếc, điều đó đã không được thực hiện và có lẽ BĐH ĐA 112 cho rằng có thể hoàn thành công việc dựa trên nguồn kinh phí lớn và dùng quyền lực HC để can thiệp vào các thực thể của bộ máy HC. Song, việc THHQLQLHCNN và CCHC không thể làm như cách đây vài chục năm, không thể duy ý chí.

    Hạ tầng để thực hiện THHQLHCNN không chỉ là cơ sở vật chất mà phải bao gồm cả năng lực của bộ máy HC, trong đó có khả năng làm chủ các trang thiết bị. Quá trình sẽ bao gồm cả 2 vế, là công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH). Tuy nhiên, dường như người ta mới chú ý đến HĐH (mua sắm thiết bị) chứ chưa chú trọng đến CNH (trong đó yếu tố con người là quan trọng nhất). Nếu như chỉ HĐH mà không CNH thì e mọi quá trình đều khó thành công. Đội ngũ công chức chưa có tác phong làm việc công nghiệp thì tin học hóa sẽ chỉ là đưa máy tính vào công sở thay cho máy chữ. Thực chất, chúng ta đang rất thiếu yếu tố CNH và dường như đã quá vội vã với HĐH.

    Theo một số ý kiến thì các PM dùng chung (PMDC) của ĐA 112 là một sự lãng phí, không có hiệu quả ở nhiều nơi. Quan điểm của ông?

    Theo tôi, ý tưởng PMDC khi mới đưa ra nghe rất hay bởi mỗi cơ quan, tổ chức cần phải đưa máy tính vào phục vụ một công việc chung giống như ở các cơ quan, tổ chức khác. Nếu mỗi cơ quan tự trang bị cho mình các PM đó thì sẽ mất một khoản tiền khá lớn. Còn khi có PMDC cho nhiều cơ quan thì chi phí chắc chắn sẽ giảm, thậm chí hàng trăm lần.

    Tuy nhiên, người ta quên mất một điều là tốc độ phát triển của khoa học công nghệ đã khác xa trước đây. Khoa học ứng dụng có một khả năng là tự tương thích (như khả năng tự thích nghi của sinh vật), nhất là trong CNTT. PMDC nếu không phù hợp với chuẩn riêng của từng đơn vị sẽ dẫn đến lãng phí. Do vậy, đừng nên áp đặt một thứ nào đó tự ta coi là chuẩn.

    Theo tôi, sử dụng PM mã nguồn mở cũng là một trong những cách giải quyết tốt bài toán về khả năng tự tương thích của PMDC. Khả năng đó còn dễ đạt hơn nhiều nếu có được những ứng dụng mới nhất của truyền thông lượng tử.

    Ông nhận xét thế nào về việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT nói chung và cho hệ thống HCNN nói riêng?

    Trước hết, cần nhìn rõ nguồn nhân lực đó phục vụ ai để đào tạo theo nhu cầu. Có 3 nhóm đối tượng chính: cơ quan công quyền, các doanh nghiệp (DN) và mọi thành viên trong xã hội.

    Đối với bộ máy công quyền, việc đào tạo CNTT không cần thiết phải đi sâu vào kiến thức chuyên ngành, mà tốt hơn là dạy kỹ năng sử dụng phù hợp công việc HC, hướng dẫn xây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL) để khai thác thuận tiện bằng PM... Những việc còn lại là của các chuyên gia CNTT. Điều đó cũng giống như người sử dụng xe hơi thì chỉ cần biết lái xe. Việc bảo dưỡng, sửa chữa thì đã có các dịch vụ và nhà sản xuất lo liệu.

    Đối với các DN, cách thức đào tạo là phải thiết thực và gắn với ứng dụng trong từng lĩnh vực. Nhân lực cho các chương trình CNTT trọng điểm và công nghiệp PM cũng chỉ là một định hướng và không phải sinh viên CNTT nào cũng phù hợp.

    Về nhu cầu CNTT phục vụ cuộc sống riêng tư của mỗi con người, theo tôi, đó là thực tế rất sinh động, và cho dù không có lớp đào tạo thì thế hệ trẻ cũng tiếp cận rất nhanh chóng. Điều NN cần làm là nâng cao nhận thức về CNTT và tăng cường phổ biến các ứng dụng CNTT trong đời sống người dân.
    Bản thân người lãnh đạo cũng phải thấy rằng nếu họ chủ động sử dụng CNTT trong công việc thì sẽ có tác động tích cực tới cả bộ máy, nếu không sẽ bị đào thải. 
     

    ID: B0606_25