• Thứ Bảy, 01/07/2006 13:28 (GMT+7)

    Ông Nguyễn Ái Việt, phó trưởng Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT: “Chưa có luật chơi"

    Nói nhiều về việc bắt buộc dừng các dự án CNTT do sợ lãng phí đầu tư có thể gây ngộ nhận, làm giảm quyết tâm đầu tư vào CNTT vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì, mà đang gặp phải rất nhiều khó khăn về cơ chế. Chúng ta nên suy nghĩ theo hướng tìm cách tháo gỡ khó khăn.

    Hiện nay chúng ta chưa thống nhất được chuẩn và "cũng chưa có quy định nào hướng dẫn" đánh giá các dự án CNTT. Do vậy mới có chuyện bên nói đúng, bên bảo sai, như đối với Đề Án (ĐA) 112. Tình trạng này diễn ra ở rất nhiều dự án CNTT. Theo tôi, vấn đề này cần được điều chỉnh ngay trong khâu QL nhà nước.

    Khi chưa có chuẩn, chưa quy định luật chơi thì mỗi người sẽ tự đánh giá theo ý chủ quan của mình. Đối với ĐA 112, ông Lê Mạnh Hà Sở BCVT TP. HCM nói làm sai, nhưng BĐH 112 lại cho rằng họ đã làm theo cách được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tất nhiên, ông Hà có lý khi muốn đưa quản lý nhà nước về CNTT về một đầu mối. Song, QL như thế nào? Rõ ràng chúng ta chưa xác định luật chơi trước khi chơi.

    Lấy ví dụ về vấn đề PM dùng chung, nếu chúng ta thống nhất trước được tiêu chí đánh giá, thì việc kiểm thử chất lượng của các PMDC rất giản đơn. Bộ BCVT có thể cử một đoàn chuyên gia mang các PM của 112 và của Sở BCVT TPHCM ra để kiểm thử “chấm điểm”. Mỗi PM có bao nhiêu chức năng có thể test được ngay. Nếu đúng PM của 112 kém thì có cơ sở để khiển trách và nếu họ không sửa chữa thì có thể đề nghị cắt đầu tư trong tương lai. Rõ ràng cơ chế tiền kiểm trong QL CNTT đã đến lúc bộc lộ tính yếu kém của nó. Nếu theo cơ chế tiền kiểm, cứ thực hiện đúng như đã được duyệt, sao có thể bắt lỗi? Đã nói đến chất lượng của PM, tức là đã phải có một cơ chế hậu kiểm. Hiện nay chúng ta chưa có cơ chế hậu kiểm bao gồm phê duyệt tài liệu kiểm thử, tiêu chuẩn và một qui trình kiểm thử bắt buộc.

    Nhằm xác định luật chơi, Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT đã thiết kế “Kiến trúc CNTT quốc gia Việt Nam” (VNITA)[Xem thêm bài "Sự cần thiết của kiến trúc thông tin quốc gia”, TGVT B 4/2006, trang 15] để đưa vào “Chương trình trọng điểm quốc gia về CNTT”. Đây là công cụ bảo đảm sự hài hòa, tính hệ thống trong việc thực hiện các dự án, đề án CNTT. Nếu VNITA được phê duyệt, cần có một quyết định hay nghị định bắt buộc cả nước phải thực hiện theo để tiết kiệm nguồn lực, tránh chồng chéo, lệch chuẩn. Khi đã có kiến trúc đó, nếu các đơn vị thực hiện dự án không làm theo thì phải tự chịu trách nhiệm khi thất bại. Còn nếu đã làm đúng mà vẫn thất bại thì có thể kiến trúc đó có chỗ sai, cần phải sửa. Tóm lại là luật chơi phải được nói ra trước khi làm. Thực ra Bộ BCVT mới được giao quản lý ngành CNTT, chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa ra ngay được tất cả các văn bản hướng dẫn cần thiết. Nếu đã hướng dẫn mà BĐH 112 không làm theo thì lúc đó phải có ý kiến. Còn họ làm chưa có hiệu quả, hay tốn kém thì lại là chuyện khác. Dù sao cũng phải thấy rằng, thực hiện ĐA 112 là một nhiệm vụ rất khó khăn, ý kiến khen chê là chuyện dễ hiểu. Cả hai phía đều có cái lý riêng của mình từ hai góc nhìn khác nhau.

    ĐA 112 ra đời độc lập, sau đó “Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến năm 2005” mới đưa nó vào. Bản thân kế hoạch này cũng không có cơ chế kiểm tra giám sát. Trong Quyết Định số 95/2002/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ chỉ nói đến đầu việc chứ không đề cập đến cơ chế kiểm tra, giám sát. Hiện có 14 dự án và ĐA về tin học nhưng mới có một vài ĐA được triển khai. Những đơn vị không triển khai có thật là không có lỗi?

    ID: B0606_27