• Thứ Tư, 05/07/2006 14:32 (GMT+7)

    Bài học nào từ mô hình “Bắc Ninh điện tử”?

    Từ giữa năm 2003, Bắc Ninh đã chọn bài toán xử lý văn bản, hồ sơ công việc là mũi đột phá ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính. Thực ra, lựa chọn này cũng nằm trong tầm ngắm của nhiều bộ, ngành, địa phương . Điều khác biệt nằm ở cách làm và kết quả cuối cùng.

    Từ giữa năm 2003, Bắc Ninh đã chọn bài toán xử lý văn bản, hồ sơ công việc là mũi đột phá ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính. Thực ra, lựa chọn này cũng nằm trong tầm ngắm của nhiều bộ, ngành, địa phương . Điều khác biệt nằm ở cách làm và kết quả cuối cùng.

    "Từ 2003 trở về trước, chúng tôi cũng chưa có gì” – ông Nguyễn Như Mão, chánh Văn Phòng UBND tỉnh Bắc Ninh mở đầu câu chuyện với chúng tôi như vậy. Đứng trước bài toán cần triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước, lãnh đạo tỉnh đã giải quyết theo phương châm "phương pháp nào ngắn gọn, dễ áp dụng, khả thi và mang lại hiệu quả cụ thể thì chọn". Suy đi tính lại, lãnh đạo UBND tỉnh khẳng định việc xử lý văn bản, hồ sơ công việc (HSCV) hàng ngày diễn ra tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) là bài toán tiêu biểu nhất trong các nhiệm vụ chức năng của bộ máy và có quan hệ với hầu hết mọi công việc khác.

    Khởi đầu "Chính phủ điện tử"

    Ông Nguyễn Hữu Mão, chánh VP UBND tỉnh đang thuyết trình về hệ thống HSCV

     

    Bắc Ninh đã dành khoảng 2 năm để làm thí điểm. Những nội dung chính được kiểm nghiệm là: Hệ thống HSCV (Được thiết kế và cài đặt trong tất cả các đơn vị của bộ máy hành chính vận hành như thế nào? Quy trình công việc hàng ngày có sự hỗ trợ của hệ thống này có gì khác so với trước đây? Những gì làm cho công việc tiến triển thuận lợi hơn và ngược lại? Cần huấn luyện cho người dùng những kỹ năng gì? Cần có những yếu tố đòn bẩy nào? Cần có những chế tài gì để ứng dụng đi vào thực tiễn?)

    Sau khi kiểm nghiệm và đánh giá cẩn thận những vấn đề trên, từ ngày 13/04/2005, Bắc Ninh đã triển khai hệ thống HSCV đồng loạt tại Văn Phòng UBND tỉnh, 21 sở, ngành, 7 huyện và TP Bắc Ninh. Ứng dụng này chạy trên hạ tầng kỹ thuật là một mạng WAN kết nối mạng LAN của 21 sở, ban, ngành và UBND TP Bắc Ninh với Trung Tâm Tích Hợp Dữ Liệu đặt tại VP UBND tỉnh bằng cáp quang và với UBND 7 huyện bằng kênh vô tuyến. Hệ thống HSCV ứng dụng giải pháp IBM Lotus Domino/Notes. Các bản cài đặt cho các sở, ban, ngành, UBND huyện và thành phố đều giống nhau.

    Để chuẩn bị triển khai đồng loạt, tỉnh tổ chức huấn luyện cán bộ sử dụng hệ thống theo 2 bước: Bước 1 đào tạo tập trung tại phòng Lab của Trung Tâm Tin Học, VP UBND tỉnh theo cách mô phỏng toàn bộ quy trình làm việc mà từng cán bộ phải triển khai trong thực tế; bước 2 là huấn luyện tại chỗ (trên mạng LAN của từng đơn vị) cho đến khi thành thục. Trong hệ thống mới này, mỗi loại văn bản, hồ sơ, quy trình xử lý từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc được xác định rõ ràng. Luồng vận hành cho thấy mọi việc tụ về chánh văn phòng, người hiểu rõ trạng thái xử lý vụ việc và năng suất làm việc của từng chuyên viên. Đến tháng 4/2006, hệ thống đã thay thế hoàn toàn cách làm cũ và hoạt động ổn định.

    Quy trình mới đã vận hành

    Trả lời câu: "Kết quả nào được tỉnh đánh giá là quan trọng nhất từ việc triển khai ứng dụng CNTT?", phó chủ tịch UBND tỉnh Bùi Đình Kiên khẳng định: "Bây giờ nhìn là biết tắc ở đâu, rất tiện cho điều hành". Mạng máy tính đã đi vào công việc hàng ngày và qua sơ kết, cán bộ, nhân viên đều nhận xét ứng dụng này mang lại hiệu quả. Vì thế tỉnh có chủ trương "không biết sử dụng máy tính, không làm cán bộ", trước tiên áp dụng cho lãnh đạo vì lãnh đạo có vào cuộc thì nhân viên mới làm theo.

    Như một nhà chuyên môn, ông Nguyễn Hữu Mão, chánh Văn Phòng UBND tỉnh cho biết: "Nếu không có văn bản điện tử thì văn bản in không lấy được số" và "Cứ nhìn bảng tổng hợp, trước kỳ họp giao ban, anh nào chưa xong là nhắc ngay để đến lúc giao ban thì đâu vào đó. Chúng tôi dùng projector chiếu thẳng kết quả lên phục vụ cuộc họp". Ở cấp sở, hệ thống cũng mang lại lợi ích cụ thể.

     

     

     

     

     

     

     

    Ông Đặng Hùng Võ, thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường: "Đủ điều kiện về thông tin, thông tin chính xác thì có nghĩa là công khai được, nếu như lãnh đạo tỉnh không ngại rằng mình có quá nhiều đất".

    Ông Nguyễn Văn Hải, giám đốc Sở Thương Mại và Du Lịch tỉnh Bắc Ninh nhận xét: "Giảm bớt công việc hành chính, giảm đi lại và tiết kiệm rất nhiều giấy là những kết quả dễ thấy nhất". Trước kia, nhiều loại văn bản (đặc biệt là văn bản luật thường rất dày) đều phải sao chụp ra nhiều bản để gửi lãnh đạo và các phòng ban liên quan, nay thì xin mời xem trên mạng! Ở cấp huyện, ứng dụng này tác động mạnh đến nhận thức của cán bộ văn phòng UBND. Thăm huyện Quế Võ, chúng tôi được các chuyên viên của huyện chia sẻ rất tự nhiên: "Nói công nghệ này khác thì có vẻ to tát, nhưng cũng dễ dùng thôi. Mà mình vẫn là chính chứ có phải máy đâu, mình không làm thì nó cũng chịu!".

    Hình như khi triển khai hệ thống này mọi người đi làm sớm hơn. Đến cơ quan, trước tiên là bật máy để xem tin tức. Trước đây cơ quan nào cũng phải mua hàng chục tờ báo mỗi ngày, nay tất cả có hết trên mạng, tin tích cực hay tiêu cực về Bắc Ninh cũng có cả. Nhẩm tính với 30 đơn vị trong bộ máy thì riêng việc hạn chế mua báo và giấy in cũng tiết kiệm tiền tỷ mỗi năm.

    Những thay đổi nêu trên mang lại một cái nhìn tích cực về việc triển khai chính phủ điện tử ở Bắc Ninh. Đã thấy tác động qua lại giữa ứng dụng CNTT và cải cách hành chính. Những quy trình mới hiệu quả hơn thế chỗ quy trình cũ một cách không mấy khó khăn.

    Hiện trạng hệ thống đô thị và tổng hợp đất xây dựng huyện Thuận Thành

     
    Khởi đầu xã hội hóa thông tin

    Ở Bắc Ninh, có 600 thôn, thôn nào cũng có nhà văn hóa (NVH) do nhân dân tự xây dựng, dùng để họp hành, thông báo tin tức, tập huấn kỹ thuật, giải trí... Dựa vào đặc điểm đó, từ giữa năm 2005, UBND tỉnh bàn phối hợp với Bưu Điện tỉnh và các ngành hữu quan đưa mô hình tương tự "Điểm bưu điện văn hóa xã” xuống các thôn [Xem bài "Bắc Ninh: Net đến từng thôn" trên TGVT B tháng 6/2005, trang 22].

    Người dân Bắc Ninh rất phấn khởi tiếp nhận cách làm này. Hiện nay, cả tỉnh có 180 thôn có máy tính nối mạng Internet. Mô hình điểm bưu điện - văn hóa thôn tạo điều kiện cho người dân, nhất là nông dân làm quen với máy tính, kết nối các thôn làng xa xôi của Việt Nam với thế giới. Điều này đã khiến Bill Gates chú ý và ông chủ tịch hãng Microsoft đã dành thời gian đến thăm NVH thôn Dương Sơn, xã Tam Sơn (Từ Sơn, Bắc Ninh) dù chỉ có 1 ngày làm việc ở Việt Nam. Người ta nói nhiều đến những giá trị mà CNTT mang lại, nhưng để nhận ra nó thật cụ thể thì quả là không dễ. Khi tận mắt thấy chiếc máy vi tính để bàn nối với Internet qua dây điện thọai phục vụ những người nông dân ở một vùng quê hẻo lánh, làm cho những đôi mắt vẫn quen với ruộng lúa, nương dâu sáng bừng lên vì những điều mới mẻ, chúng tôi chợt nhận ra một chân lý giản dị: Đó là giá trị vì dân.

    Thay lời kết

    Nói đến "Bắc Ninh điện tử" (hay bất cứ một địa phương, một hoạt động xã hội cụ thể nào gắn với chữ "điện tử") là chúng ta nói đến mục tiêu cần phấn đấu. Thời gian thật sự đến được mục tiêu đó có lẽ phải tính bằng đơn vị chục năm. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ đã cần hoạch định cho quá trình này. Cách tiếp cận của Bắc Ninh có thể tóm gọn như sau: Triển khai ứng dụng CNTT một cách hệ thống, đồng bộ, bắt đầu từ 2 mũi đột phá. Mũi thứ nhất tập trung giải quyết HSCV đồng loạt tại các đơn vị trong bộ máy QLHCNN nhằm hợp lý hóa quy trình, thay đổi thói quen làm việc, nâng cao hiệu quả hoạtt động. Mũi thứ hai hướng đến xã hội hóa thông tin thông qua các NVH thôn, đưa tiến bộ công nghệ phục vụ người dân, đưa thông tin đến với người dân ở từng đơn vị dân cư nhỏ nhất.

    Sự thay đổi các quy trình hành chính sẽ dẫn đến thay đổi chất lượng và hiệu quả quản lý, nâng dần trình độ quản lý để vươn tới một nền QLHCNN hiện đại. Xã hội hóa thông tin là con đường ngắn nhất thực hiện "Bắc Ninh điện tử". Đơn giản phải có các công dân điện tử thì mới có một tỉnh điện tử.

    Khách quan mà nói, những gì Bắc Ninh đạt được chỉ là khởi đầu. Còn phải phát triển ứng dụng CNTT sâu hơn và mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác. Tuy nhiên, sự khởi đầu của Bắc Ninh mang lại những tín hiệu khả quan cho các bước tiếp theo.

     

    PHẢI "NUÔI" SỰ CÔNG KHAI

     
     

    Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên công khai hóa cơ sở dữ liệu (CSDL) đất đai toàn tỉnh trên cổng thông tin điện tử (Bắc Ninh Portal). Theo ông Nguyễn Tử Quỳnh, giám đốc Sở TNMT tỉnh Bắc Ninh, hệ thống thông tin đất đai Bắc Ninh có thể mang lại cho người dân những lợi ích sau:
    - Biết trước quy hoạch
    - Biết đất muốn mua đã hợp thức, hợp pháp chưa...
    - Khi từ xã, huyện đến tỉnh có máy tính nối mạng thì có thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua mạng.
    - Có thể biết được thông tin về đất của các lãnh đạo.
    Có lẽ một phần những lợi ích nêu trên còn nằm trong tương lai. Hiện tại, Bắc Ninh Portal vẫn chưa cung cấp sơ đồ đất đai chi tiết đến từng hộ dân. Có nghĩa là, người dân vẫn chưa biết hiện trạng của từng mảnh đất cụ thể, như đất của nhà mình, nhà hàng xóm, nhà mình đang định mua, nhà ông A, bà B trong tỉnh. Theo ông Mai Ái Trực, bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, lập ra được CSDL là tốt, nhưng vấn đề còn là "nuôi" nó thế nào. Có 3 việc cần lưu ý: Thứ nhất là phải tiếp tục thu thập thông tin và liên tục cập nhật thông tin đó. Điều này liên quan đến việc tổ chức cập nhật, nhưng ít được đề cập. Thứ 2 là vấn đề tích hợp dữ liệu. Thứ 3 là kết nối thông tin theo nguyên tắc: Điều gì không bí mật thì phải công khai. Đừng trách người dân không quan tâm mà phải xem chúng ta cung cấp những thông tin gì.
    Cũng nói về vấn đề này, ông Nguyễn Thế Thảo, bí thư Tỉnh Ủy Bắc Ninh cho rằng: "Đất đai là lĩnh vực vừa nhạy cảm vừa khó quản lý. Cho nên, công khai thì công khai, nhưng yêu cầu phải chính xác. Công khai mà không chính xác sẽ dẫn đến những hậu quả không hay. Một điều rất quan trọng nữa là việc tiếp nhận thông tin của xã hội. Hiện nay, không phải người dân nào cũng có điều kiện truy cập vào mạng để lấy thông tin. Sự tin tưởng, độ tin cậy của người dân đối với thông tin như thế nào là một vấn đề. Do đó cần đầu tư hạ tầng, hệ thống mạng đầy đủ khắp các điểm phổ cập Internet. Hiệu quả mới là mục tiêu cuối cùng".
    Nhật Minh

     

    Nguyễn Tuấn Hoa, Viện KHCNVN

    ID: B0607_22