• Thứ Hai, 31/07/2006 11:24 (GMT+7)

    Diễn đàn 112: Kinh nghiệm của Nhật Bản

    Viện nghiên cứu về chính phủ điện tử (CPĐT) thuộc ĐH Waseda, một trong những ĐH hàng đầu ở Nhật Bản (NB) vừa công bố kết quả thống kê việc xây dựng và phát triển CPĐT của các nước trên thế giới. Trong bảng xếp hạng này, NB xếp thứ 4 về CPĐT trên thế giới, sau Mỹ, Canada, và Singapore. Kết quả này cho thấy NB đã tiến mạnh trong xây dựng CPĐT vì năm 2001, NB chỉ ở vị trí 18, năm 2003 ở vị trí 15, 2005 ở vị trí thứ 7.

    Viện nghiên cứu về chính phủ điện tử (CPĐT) thuộc ĐH Waseda, một trong những ĐH hàng đầu ở Nhật Bản (NB) vừa công bố kết quả thống kê việc xây dựng và phát triển CPĐT của các nước trên thế giới. Trong bảng xếp hạng này, NB xếp thứ 4 về CPĐT trên thế giới, sau Mỹ, Canada, và Singapore. Kết quả này cho thấy NB đã tiến mạnh trong xây dựng CPĐT vì năm 2001, NB chỉ ở vị trí 18, năm 2003 ở vị trí 15, 2005 ở vị trí thứ 7.

    Những thành tựu chính

    Theo ông M. Muta, một chuyên gia tư vấn phát triển CPĐT, trong 5 năm từ 1997 - 2003, NB đã xây dựng được một cơ sở hạ tầng CNTT –TT hàng đầu thế giới với hệ thống kiến trúc thông tin quốc gia gồm 3 hệ thống mạng: KWAN, LGWAN, và Jyuki Net. Các hệ thống chữ ký điện tử, con dấu điện tử, thanh toán điện tử... đều được tích hợp vào 3 hệ thống mạng này.

    KWAN là mạng diện rộng kết nối mạng LAN của các bộ, ngành; được tích hợp hệ thống thư điện tử và cơ sở dữ liệu (CSDL) về nhân sự, tài chính, quan hệ giữa chính phủ (CP) và doanh nghiệp (DN); các hệ thống thông tin của Quốc Hội, hệ thông tin quản lý, trao đổi và xử lý văn bản điều hành… LGWAN là mạng diện rộng toàn quốc kết nối tất cả các mạng LAN của chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố; đồng thời kết nối và trao đổi dữ liệu với mạng KWAN. Jyuki Net đóng vai trò là mạng quản lý thông tin người dân như mã số điện tử, tên, tuổi, địa chỉ, giới tính,nghề nghiệp... Việc chia sẻ hệ thống thông tin này với các lớp mạng khác trong kiến trúc thông tin quốc gia là điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng và cung cấp dịch vụ công tới mọi người dân.

     

    Theo thống kê của CP NB, trung bình mỗi nhân viên trong các bộ, ngành được trang bị ít nhất một máy tính để xử lý công việc hành chính. Họ đều được đào tạo cơ bản về tin học và liên tục được đào tạo lại. Phần lớn người dân Nhật đều có khả năng sử dụng máy tính và Internet. Giáo sư Y. Hijikata, người nổi tiếng về công nghệ Internet tại Nhật- cho biết, người Nhật ngày nay sử dụng Internet giống như xem TV hàng ngày. Theo thống kê của eTForecasts (Mỹ), NB có số lượng người sử dụng Internet đứng thứ 3 thế giới, sau Mỹ và Trung Quốc: 67,2% dân số thường xuyên sử dụng Internet. 77,1% hộ gia đình ở Nhật có đường Internet tốc độ cao. CP Nhật đang thực hiện kế hoạch để trong thời gian ngắn nhất có thể đạt tỉ lệ 100% hộ gia đình có đường truyền Internet tốc độ cao.

    Hai thành tựu tiêu biểu trong xây dựng và cung cấp dịch vụ công ở NB là "Cổng thông tin quốc gia" (www.e-gov.go.jp) và "Dịch vụ một cửa quản lý phương tiện giao thông công cộng". Cổng thông tin quốc gia được thành lập từ năm 2001, cung cấp thông tin về các tất cả các bộ, ngành và các thủ tục hành chính cho người dân và DN. Ông H. Chiba, phó giám đốc Văn Phòng Quản Lý các Hệ Thống Thông Tin CP cho biết: Người dân có thể tìm kiếm thông tin đa dạng trên trang web của CP, từ các thủ tục hành chính, văn bản điều hành, văn bản luật đến các nghiên cứu, thống kê của CP, thông tin thương mại, việc làm…". Dịch vụ một cửa quản lý phương tiện giao thông công cộng là một điển hình trong nền hành chính "một cửa" tại NB. Người dân muốn mua, bán xe ô tô có thể hoàn tất mọi thủ tục bằng cách dùng dịch vụ một cửa này mà không phải làm các thủ tục ở bất kỳ cơ quan quản lý nào khác.

    Các nhà chuyên môn cho rằng, quá trình xây dựng phát triển và đưa các dịch vụ công trực tuyến đến người dân ở NB đã bước vào giai đoạn liên kết hoạt động đồng bộ giữa các dịch vụ công của các đơn vị hành chính khác nhau. Ở giai đoạn trước, các đơn vị hành chính của CP đã xây dựng, hoàn thành các dịch vụ công trực tuyến của mình nhưng hoạt động riêng rẽ. Trong giai đoạn này, người dân khi muốn giao dịch với các cơ quan hành chính khác nhau chỉ cần truy cập vào cổng giao tiếp chung của CP để thực hiện, không cần phải qua nhiều đơn vị hành chính khác nhau. Trên thế giới, các nước thực sự bước vào giai đoạn này còn rất ít và họ là các nước đi đầu trong việc phát triển CPĐT.

    Chìa khóa thành công: sự quyết tâm của CP

    Ngay từ tháng 12/1994, khi nhận thức được sự hình thành kỷ nguyên thông tin với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức toàn cầu, CP NB đã ban hành "Kế hoạch tổng thể về việc ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động hành chính nhà nước giai đoạn 1995-1999". Sau ba năm thực hiện, tháng 12/1997, CP NB đã tổng kết để rút kinh nghiệm quá trình "Tin học hóa hành chính nhà nước" (THH HCNN) trong ba năm đầu, đồng thời sửa đổi kế hoạch tổng thể cho phù hợp với thực tế giai đoạn 1998-2002 tiếp theo. Song song với việc thực hiện THH HCNN, NB cũng ban hành các chính sách và bộ luật về CNTT và ứng dụng CNTT. Tháng 2/1995, chính sách thúc đẩy phát triển xã hội thông tin - truyền thông hiện đại ra đời, đồng thời CP NB cũng thành lập ủy ban quốc gia thực hiện chính sách đó. Đến tháng 11/1998, chính sách này được sửa đổi cho phù hợp hơn với thực tế lúc bấy giờ.

    Năm 2001 đánh dấu nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình THH HCNN của NB. Luật CNTT được NB xây dựng từ năm 2000, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1/2001. Cũng trong năm đó, "Ban chỉ đạo chiến lược quốc gia về CNTT-TT" được thành lập dựa trên cơ sở của "Ủy ban các chính sách phát triển xã hội thông tin - truyền thông". Chính Thủ Tướng J. Koizumi đảm nhiệm vai trò trưởng ban chỉ đạo, trực tiếp lãnh đạo việc xây dựng xã hội thông tin – truyền thông hiện đại của đất nước. Thành viên ban chỉ đạo gồm các bộ trưởng trong nội các CP, một số chủ tịch các tập đoàn kinh tế mạnh như Matsushita Electric, NTT Docomo, Ito-Yokado, Tosei Electrobeam, một số giáo sư nổi tiếng và nhiều kinh nghiệm từ các trường ĐH. Sự kiện này càng làm cho người dân và các DN thấy rõ sự ưu tiên đặc biệt của CP NB đối với việc ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động của xã hội.

     

     

    Việc thành lập "Ban chỉ đạo chiến lược quốc gia về CNTT - TT" do chính Thủ Tướng CP trực tiếp chỉ đạo đồng hành: với việc sửa đổi liên tục chính sách, chương trình chiến lược phát triển ứng dụng CNTT - TT, xây dựng bộ luật CNTT, tổng kết hiệu quả hoạt động thường xuyên, tăng dần vốn đầu tư hàng năm thể hiện quyết tâm cao của CP NB đối với việc xây dựng CPĐT. Có thể nói, đây chính là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển nhanh chóng CPĐT ở NB.

     

    Cũng trong năm 2001, CP NB tiếp tục công bố chính sách có tên e-Japan, nêu rõ "việc phát triển ứng dụng CNTT-TT trong mọi hoạt động của xã hội là chìa khóa để đảm bảo cho NB phát triển trong thế kỷ 21". Cũng trong chính sách này, NB đặt ra mục tiêu phấn đấu trở thành nước có nền CNTT hiện đại nhất thế giới trong 5 năm. Để hiện thực hóa chính sách được ưu tiên số một này, chương trình chiến lược e-Japan Strategy I được vạch ra nhanh chóng. e-Japan Strategy I bắt đầu với việc xây dựng, phát triển toàn diện cơ sở hạ tầng CNTT-TT trên quy mô toàn quốc từ năm 2001 và cố gắng hoàn thiện trong 2 năm. Tháng 7 năm 2003, NB tiếp tục đưa ra chương trình chiến lược e-Japan Strategy II với mục đích chính là đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT-TT trong mọi hoạt động của CP. Hàng năm, CP cùng với "Ban chỉ đạo chiến lược quốc gia về CNTT – TT" đều tổng kết hiệu quả hoạt động, dựa trên kết quả tổng kết để điều chỉnh chính sách và chương trình chiến lược cho phù hợp thực tế phát triển. Cũng trong năm 2001, CP NB đã quyết định cấp khoảng 6 tỉ USD từ ngân sách hàng năm cho việc THH HCNN. Vốn đầu tư hàng năm tăng dần khoảng 2% tùy thuộc vào hiệu quả hoạt động và các đòi hỏi mới của thực tế.

    Nguồn tư liệu chính: Trang web của Thủ Tướng và nội các chính phủ Nhật Bản (http://www.kantei.go.jp/) và Cổng thông tin quốc gia Nhật Bản (http://www.e-gov.go.jp/)

    Bùi Quang Hưng

    ID: B0607_28