• Thứ Ba, 08/08/2006 09:06 (GMT+7)

    Diễn đàn 112: Một cách nhìn về đề án 112

    Đề Án Tin Học Hóa Quản Lý Hành Chính Nhà Nước (ĐA 112) cần được tiếp tục, nhưng với cách làm khác. Một trong những việc cần làm là xác định cách tiếp cận phù hợp với mục tiêu cải cách hành chính và nguyên lý hoạt động hành chính có sự tham gia của CNTT.

    Đề Án Tin Học Hóa Quản Lý Hành Chính Nhà Nước (ĐA 112) cần được tiếp tục, nhưng với cách làm khác. Một trong những việc cần làm là xác định cách tiếp cận phù hợp với mục tiêu cải cách hành chính và nguyên lý hoạt động hành chính có sự tham gia của CNTT.

    Muốn đánh giá một ĐA thành công hay thất bại, cần có những tiêu chí cụ thể từ mục tiêu và kết quả mong đợi cần đạt được, và phải căn cứ vào những đánh giá trước và sau khi thực hiện ĐA.

    Ví dụ, nếu mục tiêu của ĐA 112 là trang bị hệ thống CNTT, xây dựng một số mạng và triển khai một số phần mềm tại các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) TW và địa phương, đào tạo được một số đông cán bộ, công chức về CNTT; thì việc đánh giá là thành công, có thể chấp nhận được. Song từ góc độ HC và cải cách HC (CCHC), ý kiến đánh giá khác cũng là điều dễ hiểu. Vì vậy, nói ĐA 112 là thành công hay thất bại, chúng ta đều không có cơ sở. Điều có thể làm được, có lẽ là nhận xét để rút những "cái được" và "chưa được" từ các góc độ khác nhau, và ở nhiều cấp độ khác nhau của ĐA. Như vậy sẽ thuyết phục hơn và có ý nghĩa hơn đối với việc quyết định đi tiếp như thế nào.

    Vai trò của người vận hành

    Sẽ là khập khiễng trong đánh giá nếu quên vai trò của người tiếp thu, sử dụng, vận hành các hệ thống CNTT - người quyết định tính hiệu quả và tác dụng của hệ thống trong thực tiễn. Họ là đội ngũ công chức trong các cơ quan, với vị trí chức năng khác nhau, giống như trong đội lái tàu có người làm kỹ thuật, có người phục vụ, có người điều khiển, chỉ huy. Họ cần biết sử dụng hệ thống vào công việc phù hợp với vị trí chức năng của mình. Theo cách tiếp cận này, chương trình đào tạo nên có sự phân loại về kiến thức, kỹ năng sử dụng CNTT theo các vị trí chức năng khác nhau. Người lãnh đạo chắc chắn sẽ sử dụng CNTT khác với nhân viên. Thước đo về sự sẵn sàng tiếp nhận hệ thống công nghệ mới đối với họ phụ thuộc nhiều vào kết quả, tính tiện lợi, và những điều thú vị trong công việc nhờ hệ thống mang lại. Họ sẽ được lợi gì từ hệ thống, và chất lượng, hiệu quả công việc của cơ quan sẽ thay đổi như thế nào khi sử dụng hệ thống? Do vậy, nếu chỉ từ ý chí của người thiết lập hay chỉ đạo, tưởng như các hệ thống phần cứng, phần mềm, mạng, website được thiết kế rất tuyệt hảo, cùng các chương trình đào tạo đồng loạt sẽ được hoan nghênh, đón tiếp nồng nhiệt tại các cơ quan. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng.

    Mối quan hệ tin học hoá - CCHC

    Điều này cho thấy mối quan hệ khăng khít, phụ thuộc, tương hỗ lẫn nhau giữa chương trình Tin Học Hóa Quản Lý Hành Chánh Nhà Nước (THH QLHCNN) và chương trình CCHC. Với cách tiếp cận này, mục tiêu của THH QLHCNN sẽ bắt đầu từ những câu hỏi "chúng ta muốn vai trò của CNTT như thế nào để thiết lập được phương thức mới về hoạt động chỉ đạo, điều hành, phối hợp, liên kết HC trong nội bộ các cơ quan, giữa các cơ quan với nhau và giữa các cơ quan với người dân, DN, các tổ chức xã hội?". Ai sẽ trả lời câu hỏi này? Chắc chắn không phải chỉ là ý chí của người xây dựng hệ thống CNTT. Chúng ta sẽ cần đến nhiều yếu tố như các quy trình HC, các vấn đề liên quan đến thể chế HC cần được tháo gỡ, thay đổi cho phù hợp với mục tiêu CCHC và nguyên lý hoạt động có sự tham gia của CNTT, và quan trọng hơn cả là sự thay đổi trong nhận thức của bộ máy HC từ lãnh đạo đến các vị trí chức năng.

    Lấy ví dụ về quan điểm "công khai-minh bạch" thông tin giữa cơ quan HC với người dân và DN. Bao giờ website thật sự trở thành nơi người dân và DN có thể nhận được sự hỗ trợ hết mình của các cơ quan HCNN, nơi cơ quan HCNN nhận biết được những khó khăn, vướng mắc và nguyện vọng của người dân, DN, thì CNTT mới thực sự là công cụ của CCHC, nếu không sẽ chỉ là các "website rỗng ruột" (Theo báo cáo "Đánh giá chính phủ điện tử của Việt Nam" tại ComputerWorld 2005). Điều này không phụ thuộc vào ý chí của người dân, DN, và càng không phụ thuộc vào ý chí của người xây dựng các hệ thống website. Với cách nhìn này, chúng ta sẽ tìm được lời giải cho nhiều câu hỏi "ai, làm gì, làm như thế nào?" để chương trình THH QLHCNN thực sự trở thành phần không thể thiếu của CCHC, và đó phải là mục tiêu của THH QLHCNN.

    Chưa rõ phần mở của hệ thống

       

    Một trong những "cái được"của 112 là "phong trào" THH trong các cơ quan HCNN nở rộ trong thời gian thực hiện ĐA. Hầu hết công chức đều ý thức được sự hiện diện của chương trình này.

     

    Như vậy, việc trang bị đồng loạt, giống nhau các hệ thống CNTT với những cái tên về phần mềm, hệ thống thông tin... nghe rất giống nhau cho các cơ quan, các địa phương khác nhau, là việc làm mang nhiều tính duy ý chí. Các chủ nhân thật sự của hệ thống CNTT chỉ có vai trò làm theo những gì hệ thống quy định, thậm chí họ không hiểu đầy đủ lý do và kết quả của việc tuân thủ những quy định đó. Thực tế cho thấy địa phương nào, cơ quan nào thật sự chủ động tìm cho mình cách tiếp cận và xây dựng hệ thống CNTT xuất phát từ chính nhu cầu thực tiễn, từ mục tiêu giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công việc chỉ đạo, điều hành, liên kết, phối hợp, thì ở đó kết quả đạt được rất khác (xem bài "Bắc Ninh: tiến tới "tỉnh điện tử" , TGVT B, 5/2006).

    CCHC đang nỗ lực "phân cấp" giữa chính phủ với các địa phương, nhằm phát huy tính chủ động, linh hoạt của địa phương cho phù hợp với điều kiện thực tiễn sinh động và đặc thù. Song có vẻ như cách làm hiện nay của ĐA 112 chưa phát huy được vai trò tích cực của chính các chủ nhân tiếp quản và sử dụng hệ thống CNTT (các địa phương, các cơ quan), và như vậy ý nghĩa thật sự của mục tiêu "THH QLHCNN" còn bị nhiều hạn chế. Vấn đề đặt ra là cần cân nhắc, lựa chọn mức độ "tập trung hóa" về công nghệ và các chuẩn kỹ thuật của hệ thống đến đâu để bảo đảm tính kết nối, thông suốt của bộ máy HCNN; và phần nào dành cho sự chủ động của các địa phương, các cơ quan nhằm đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu của chính họ. Để giúp cho phần "mở" của hệ thống được xây dựng phù hợp, nên có sự tham gia ở mức hỗ trợ, hướng dẫn, tư vấn mang tính định hướng từ các chuyên gia về HC và CNTT, khi các địa phương và các cơ quan thật sự có nhu cầu. Cách làm này đòi hỏi quan điểm "ứng dụng CNTT vì sự cải cách chất lượng và hiệu quả nền HC", chứ không phải vì mục tiêu phân phối lợi ích.

    Một yếu tố khác cũng góp phần quan trọng vào thành công của chương trình THH QLHCNN. Nếu không nhìn nhận hoạt động của cơ quan HCNN là mang tính "phục vụ”, gồm phục vụ lẫn nhau (giữa các cơ quan) và phục vụ cộng đồng, thì không có lý do cho việc cung cấp thông tin từ các cơ quan, không có nhu cầu giao tiếp thực sự giữa các cơ quan với nhau và giữa các cơ quan với cộng đồng bằng CNTT. Việc đưa thông tin vào hệ thống khi đó chỉ mang tính khiên cưỡng và hình thức. Vì với vai "người cai trị”, các cơ quan HCNN không có nhu cầu công khai, không có nhu cầu phục vụ các "khách hàng" của mình.

    Xác định lại cách tiếp cận

    Với những gì ĐA 112 đã làm, cần đi tiếp như thế nào? Theo tôi, chương trình 112 cần được tiếp tục, nhưng với cách làm khác. Để xác định cách làm khác như thế nào, trước hết nên có đánh giá một cách khách quan, sòng phẳng về những cái được và chưa được trong thời gian qua. Đánh giá nên được nhìn nhận theo nhiều góc độ, bằng những kết quả, con số cụ thể để chứng minh một cách thuyết phục. Sau đó, cần phải thống nhất về cách tiếp cận, kể cả có thể phải tiếp cận lại. Có như vậy, chúng ta mới xác định đúng hướng đi mà bộ máy HCNN và cộng đồng mong đợi, mới thuyết phục được sự tham gia của chính những chủ nhân và nhận được sự ủng hộ của xã hội. Từ cách tiếp cận mới, việc tiếp theo là vạch ra lộ trình, cách làm và quan trọng là những kết quả mong đợi sẽ được xác định rõ ràng về tiêu chí mang tính đo lường. Cách tiếp cận sẽ cho biết lộ trình, các giai đoạn và kết quả cần đạt được ở từng giai đoạn; từ đó sẽ xác định rõ "ai, cần làm gì, làm như thế nào để đạt được những kết quả mong đợi gì” trong giai đoạn tiếp theo của ĐA, và "ai" sẽ là người đánh giá khách quan các kết quả. Những gì đã tạo ra từ giai đoạn 2001-2005, có thể tiếp tục phát huy trong giai đoạt tiếp theo; những gì cần điều chỉnh, sửa đổi; những gì cần làm lại, hoặc bổ sung cũng sẽ rõ ràng nếu cách tiếp cận mới được các cơ quan chức năng quyết định và thống nhất.

    TS. Phạm Thị Bích Hoa (hoapb@yahoo.com)
    Học Viện Hành Chính Quốc Gia

    ID: B0608_18