• Thứ Năm, 01/03/2007 08:25 (GMT+7)

    Quản lý nhà nước về CNTT: Cần chuyên nghiệp hóa

    Quản lý nhà nước về CNTT cần thoát ra khỏi việc quản lý các dự án (DA), đề án (ĐA). Thiết kế tổng thể, quản lý tập trung và điều phối chung, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư... là những nhiệm vụ mà nhà nước cần thực hiện một cách chuyên nghiệp.

    Quản lý nhà nước về CNTT cần thoát ra khỏi việc quản lý các dự án (DA), đề án (ĐA). Thiết kế tổng thể, quản lý tập trung và điều phối chung, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư... là những nhiệm vụ mà nhà nước cần thực hiện một cách chuyên nghiệp.

    2 giai đoạn quản lý

       

    Trong giai đoạn hội nhập, mọi việc đều phải thực hiện với tính chuyên nghiệp cao, không thể dò dẫm chiều theo ý muốn đa phần là cảm tính của một nhóm cục bộ tự cho mình là tập thể.

     
       

    Cho đến nay, QLNN về CNTT đã trải qua 2 giai đoạn. Trong giai đoạn đầu tiên, bộ Khoa Học - Công Nghệ (KHCN) chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các DA đầu tư NN về CNTT. Với quyền phân bổ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) có quyền “đọc chính tả” cho xã hội về những hoạt động CNTT phải làm. Đến nay nhìn lại, có lẽ giai đoạn này cũng là cần thiết, khi nhận thức của xã hội về CNTT đang ở bước chập chững, chưa biết phải làm gì. Các dự án của NN về CNTT là những bước khởi đầu để hình thành một ngành công nghệ mới mẻ và đưa nó vào quỹ đạo. Tuy nhiên, đến cuối giai đoạn này đã có những đánh giá khác và có sự bức xúc về cách quản lý theo kiểu “ban phát”. Điều đó cũng là tất yếu vì đến một giai đoạn nhất định, QLNN cần thoát ra ngoài công việc quản lý các DA đầu tư, vốn dĩ là một công việc hết sức bề bộn, đòi hỏi những kỹ năng và cách tư duy hoàn toàn khác so với phong cách hành chính.

    Trong giai đoạn tiếp theo, các bộ ngành và địa phương phải tự lo xây dựng, triển khai và “chạy” nguồn đầu tư cho các DA CNTT. Đây là thời kỳ hoạt động tự phát của các trung tâm tin học ở khắp mọi nơi, kể cả ở các văn phòng UBND tỉnh. Cơ quan QLNN về CNTT là bộ Bưu Chính - Viễn Thông (BCVT) bị cuốn vào xây dựng chính sách, là việc cấp thiết, rất tốn thời gian và công sức. Việc chuẩn bị tổ chức lại bộ máy để thực thi QLNN trong lĩnh vực CNTT vẫn đang ở những bước chập chững đầu tiên. Các hoạt động QLNN về CNTT trở nên âm thầm đến nỗi nhiều đơn vị, bộ, ngành quên mất vai trò này của bộ BCVT, cùng lắm thì cho rằng bộ này phải chịu trách nhiệm về hạ tầng kết nối, như vai trò của các doanh nghiệp (DN) cung cấp dịch vụ, vai trò mà một thời tổng cục Bưu Điện cũ đảm đương. 

    Trong giai đoạn này, rõ ràng việc thực hiện kế hoạch NN khá lỏng lẻo, đầu tư NN cho CNTT không đạt được mức độ cần thiết. Các DA xây dựng tự phát không theo một kiến trúc chung nào và được phê duyệt tùy theo cảm tính của một số cấp có trách nhiệm. Nhìn vào báo cáo cho giai đoạn 2001-2005 của bộ Kế Hoạch - Đầu Tư, có thể thấy đầu tư cho CNTT được chia làm các hạng mục: ĐA 112, ĐA 47 và... “ĐA 95”! Điều đó có nghĩa là, kế hoạch tổng thể về phát triển và ứng dụng CNTT bị đánh tụt xuống ngang hàng với hai ĐA của nó. Toàn bộ mức đầu tư cho các DA còn lại về CNTT của quốc gia (của tất cả các bộ ngành và địa phương quan trọng) không bằng một phần của hai ĐA kia. Hơn nữa, nhìn vào các mục chi cụ thể, không hề thấy nhiều DA đã đề ra trong kế hoạch, mà lại xuất hiện những DA rất manh mún ở các ngành và địa phương (do khéo “xoay xở”). Điều đó cũng có nghĩa là cơ chế “ban phát” vẫn còn, chỉ chuyển từ bộ KHCN sang bộ KHĐT, không theo một định hướng chuyên môn nào.

     

    Không có lý do gì để nâng cấp ban quản lý đề án thành ban chỉ đạo, hoặc để các cơ quan quản lý bị hoàn toàn cuốn hút vào việc quản lý các dự án.

       
         

    Có lẽ bị ảnh hưởng bởi một lối tư duy và nhận thức tương tự, việc phê duyệt các kế hoạch, chương trình mang tính tổng thể quốc gia cho giai đoạn 2006-2010 (với hy vọng có cơ chế tổ chức và quản lý thực hiện chung, tránh tình trạng “hoang hóa” lan tràn như vừa qua) cứ bị trì hoãn và kéo dài. Các đơn vị chịu trách nhiệm triển khai hoạt động về CNTT ở các bộ, ngành như các trung tâm thông tin bắt đầu thấy bị hạn chế trong các hoạt động thuần túy sự nghiệp và đòi hỏi phải có quyền QLNN để chủ động hơn trong khâu huy động đầu tư theo đúng nội dung và thiết kế kỹ thuật phù hợp. Ở các địa phương, các sở BCVT đang cố gắng đưa việc thẩm định các DA CNTT về một mối, nhưng đang phải đối diện với nguy cơ đầu tư manh mún và khả năng khó tích hợp hệ thống trong tương lai. Có thể nói, giai đoạn vừa qua là giai đoạn phát triển tự phát, thiếu thiết kế tổng thể và điều phối tập trung. Do đó, có một số tâm trạng nuối tiếc cách quản lý dễ dàng có kết quả nhìn ngay được và tính hiệu lực của mệnh lệnh trong giai đoạn trước. 
     

    Tất nhiên sẽ không bao giờ có sự phát triển quay ngược trở lại, nhưng dù sao cũng cần chấm dứt tình trạng mò mẫm thử nghiệm và tiếp tục sai lầm, không có tầm nhìn xa như thế. Chúng ta không thể không xót xa vì giai đoạn tập trung đầu tư, NN đã không tạo ra được một số lượng đáng kể các công ty lớn, có sản phẩm giàu sức cạnh tranh, hoặc vì những cơ hội vô cùng lớn đã mất đi. Đáng ra, chúng ta có thể tập trung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực để chuẩn bị sẵn sàng cho những bước phát triển của ngày hôm nay... Rõ ràng, trong giai đoạn tới, QLNN trong CNTT phải mang tính tập trung và chuyên nghiệp cao hơn nữa.
    Trước hết, cần vạch rõ ranh giới của các lớp có liên quan tới quản lý: công tác chỉ đạo - xây dựng chính sách - thực thi và triển khai. Các công tác này đòi hỏi những kỹ năng chuyên môn hết sức khác nhau, do đó cần có sự phân công và phối hợp rành mạch, vạch rõ các ranh giới để tránh “dẫm chân” lên nhau.

    Nhà nước đóng vai trò nào?

    Ở giai đoạn phát triển sơ khai, do môi trường chưa có tính chuyên nghiệp, hoạt động của một ĐA, DA có quy mô lớn đòi hỏi phải “xé rào”, tự xây dựng các cơ chế chính sách để nhanh chóng tháo gỡ khó khăn. Hoặc ngược lại, công tác chỉ đạo cần có những DA thử nghiệm để có thể xây dựng mô hình điều phối đúng đắn. Tuy nhiên, phải xác định là các xu hướng này chỉ có tính giai đoạn. Ban chỉ đạo, cơ quan QLNN rõ ràng không thể chuyên quản lý tiền đầu tư hay cầm tay làm hộ các DA cho các đơn vị. Thiết kế tổng thể, quản lý tập trung và điều phối chung đã trở thành nhu cầu bức thiết trong giai đoạn mới.

    Chỉ riêng chức năng bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, QLNN trong CNTT đã có rất nhiều nội dung phải làm và không cần chồng lấn lên các công việc của người khác. Trước tiên, phải có một quy hoạch tổng thể về CNTT. Đó chính là kiến trúc CNTT (Tham khảo bài “Sự cần thiết của kiến trúc thông tin quốc gia”, TGVT B, số 4/2006). Bộ BCVT sẽ xây dựng kiến trúc CNTT quốc gia (VNITA). Dựa theo đó, các sở BCVT sẽ xây dựng kiến trúc CNTT cho các tỉnh; các cơ quan chịu trách nhiệm về CNTT (văn phòng CIO) ở các bộ, ngành sẽ xây dựng kiến trúc CNTT cho bộ, ngành mình. Thứ hai, phải có các hướng dẫn đầu tư, khuyến cáo chuẩn công nghệ và hệ thống, hướng dẫn cách thức xây dựng và triển khai một DA CNTT cụ thể cho các nhà đầu tư. Thứ ba, cần có cơ quan NN chịu trách nhiệm thẩm định về tính hợp chuẩn, phù hợp kiến trúc của các DA về CNTT. Thứ tư, cơ quan NN cần đưa ra quy định về kiểm thử và xây dựng các trung tâm kiểm thử chất lượng đầu tiên cho các DA về CNTT. Thứ năm, cần có các báo cáo chính thức cũng như các hệ thống tiêu chuẩn cho các sản phẩm và giải pháp có trên thị trường cảnh báo về những sự cố liên quan tới các sản phẩm đó.

       

    Người ta thường lẫn lộn các vấn đề đạo đức, pháp luật và văn hóa gây nên sự nhập nhằng trong cách hiểu đối với nội dung QLNN về CNTT. Bản chất sự việc đơn giản hơn: Nếu một chủ đầu tư tham ô móc ngoặc, vi phạm các quy định đầu tư, không đảm bảo chất lượng công trình thì vấn đề đó phải thuộc về cơ quan pháp luật, không còn là vấn đề CNTT. Vấn đề sẽ thuộc về nội dung QLNN trong CNTT nếu như chủ đầu tư không có phương thức nào để kiểm soát, đảm bảo chất lượng của DA, của các sản phẩm mà họ đã đầu tư.

     

    Thêm nữa, các cơ quan QLNN về CNTT có thể được giao trách nhiệm quản lý thông tin và các hệ thống CNTT đã đầu tư. Quản lý luôn luôn bao gồm việc tổ chức và khai thác tối đa hiệu quả của các nguồn lực này. Chẳng hạn, có thể triển khai vấn đề tái thiết kế quy trình tác nghiệp (BPR - Business Process Reengineering). Vấn đề này tuy có liên quan chặt chẽ đến vấn đề tổ chức bộ máy, nhưng ở giai đoạn sơ khởi, việc xây dựng các nền tảng kỹ thuật đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao và có một vai trò quyết định đối với thành công. Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu, việc này thường được giao cho cơ quan chịu trách nhiệm QLNN về CNTT có vai trò như bộ BCVT ở Việt Nam. Sau khi các cơ sở kỹ thuật đã được kiện toàn và hình thành, nội dung này có thể chuyển giao cho các đơn vị khác.

    Lệnh Lỗi Dương

    ID: B0703_18