• Thứ Ba, 04/09/2007 13:50 (GMT+7)

    Sẽ không có “siêu đề án”

    Tinh thần chính của chương trình ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước là phát huy sự chủ động của các bộ/ngành, địa phương và sử dụng thống nhất tiêu chuẩn để bảo đảm tương thích trong toàn hệ thống.

    Tinh thần chính của chương trình ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước là phát huy sự chủ động của các bộ/ngành, địa phương và sử dụng thống nhất tiêu chuẩn để bảo đảm tương thích trong toàn hệ thống.

    Đó là nhận định của TS. Nguyễn Thành Phúc, phó viện trưởng viện Chiến Lược BCVT và CNTT, tổ trưởng tổ biên tập “Chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007-2010” do bộ Thông Tin Truyền Thông (trước là bộ BCVT) soạn thảo theo quy định tại Nghị Định 64/2007/NĐ-CP (gọi tắt là “chương trình thực hiện NĐ 64”). Ông Phúc đã trao đổi với phóng viên tạp chí Thế giới vi Tính - PC World VN những vấn đề dư luận quan tâm liên quan đến chương trình này.

    CẦN ĐỔI MỚI TƯ DUY

    Thưa ông, nhiều người đang thắc mắc vì không thấy có đề án, chương trình rõ ràng nào về việc xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT). Phải chăng chương trình thực hiện NĐ 64 do bộ Thông Tin Truyền Thông (TTTT) soạn thảo sẽ đảm nhiệm vai trò đó?

    Hiện có nhiều khái niệm khác nhau về CPĐT, nhưng có một khái niệm được nhiều người chấp thuận là: “Chính phủ ứng dụng CNTT để hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, minh bạch hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn và phát huy vai trò làm chủ của người dân mạnh mẽ hơn”. Với cách hiểu này, việc xây dựng CPĐT ở Việt Nam đã bắt đầu từ khi các cơ quan nhà nước (CQNN) sử dụng máy tính nâng cao hiệu quả hoạt động và phục vụ người dân tốt hơn. Để thành công như Singapore, Đan Mạch..., cần thời gian hàng chục năm. Chương trình thực hiện NĐ 64 xác định những việc cần làm trong giai đoạn 2007-2010.

    Cần nói thêm rằng “CPĐT” là một khái niệm được dịch từ tiếng Anh. Chúng ta nên hiểu là ứng dụng CNTT trong cả hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Quốc Hội, tòa án, viện kiểm sát, Chính Phủ...

    Bộ TTTT đưa ra những biện pháp nào để tránh mỗi nơi làm một phách khi thực hiện chương trình này?
    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về CNTT đã được hoàn thiện căn bản với luật CNTT, luật Giao Dịch Điện Tử, các nghị định hướng dẫn thi hành... Trách nhiệm của người đứng đầu và hệ thống cơ quan chuyên trách về CNTT đã được xác lập tại tất cả bộ, cơ quan ngang bộ, các tỉnh/thành phố. Với điều kiện đó, nếu thực hiện nghiêm túc các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về CNTT thì đã bảo đảm tính hệ thống và sự nhất quán. Chẳng hạn, theo quy định tại NĐ 64, bộ BCVT xây dựng và ban hành kiến trúc chuẩn hệ thống thông tin quốc gia, hướng dẫn các sở BCVT, cơ quan chuyên trách về CNTT tại các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện.
    Ban soạn thảo chương trình gồm nhiều thành viên ở ngoài bộ TTTT, gồm cả đại diện ban điều hành Đề Án 112. Trong quá trình soạn thảo, vài ý kiến muốn chương trình sẽ giống như “siêu đề án 112 mới” với kinh phí đủ ngưỡng (có thể tới hàng chục ngàn tỷ đồng) và sự điều hành tập trung. Những ý kiến đó được bàn bạc, tranh luận cởi mở và đại đa số các thành viên khác đều thống nhất cần thay đổi tư duy, không thể tiếp tục kiểu “cầm tay chỉ việc” kèm theo kinh phí từ trên xuống.

    VAI TRÒ NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU

    Đặc điểm chính của chương trình thực hiện NĐ 64 là gì? Về căn bản, hệ thống mà chương trình này muốn xây dựng giống và khác như thế nào so với hệ thống của Đề Án 112?

    Chương trình hiện nay có sự thay đổi căn bản về tư duy xây dựng và triển khai ứng dụng CNTT: không có “siêu đề án” phân bổ kinh phí cho các bộ, cơ quan ngang bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương mà đòi hỏi có sự chủ động của tất cả các ngành, địa phương theo đúng quy định của NĐ 64.

    Việc ứng dụng CNTT nói riêng và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhằm phục vụ nhân dân nói chung được xác định rõ là trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu các cơ quan. Vì vậy, người đứng đầu các ngành, các địa phương phải chủ động. Nếu người đứng đầu thực sự trách nhiệm, chủ động thì những khó khăn “muôn thuở” như thiếu vốn, không đồng bộ với cải cách hành chính (CCHC)... sẽ được giải quyết và cả lực lượng chuyên về CNTT cũng sẽ được tăng cường.

    Bộ TTTT với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước không thể làm thay nhiệm vụ ứng dụng CNTT của từng ngành, từng địa phương được. Vai trò “nhạc trưởng” của bộ là xây dựng, hoàn chỉnh, hướng dẫn thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn khung về kỹ thuật sao cho khuyến khích được sự chủ động, sáng tạo của các ngành, địa phương mà vẫn đảm bảo có thể liên thông toàn bộ hệ thống thông tin của các CQNN.

    Nhiều nơi, lực lượng chuyên trách về CNTT còn mới, mỏng nên có tâm lý lo ngại, vẫn muốn được “cầm tay chỉ việc”. Thực ra không phải các cơ quan chuyên trách về CNTT ở các ngành, địa phương sẽ trực tiếp tự làm mọi việc mà chính là các doanh nghiệp CNTT sẽ thực hiện.

    Tóm lại, đặc điểm chính của hệ thống đó và cũng là sự khác biệt với hệ thống của Đề Án 112 là: phát huy tính chủ động của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh/thành phố và sử dụng thống nhất tiêu chuẩn, bảo đảm tính tương thích về công nghệ trong toàn bộ hệ thống thông tin của các CQNN (khoản 5, điều 24 luật CNTT).

    VẤN ĐỀN NHẬN THỨC

    Kinh phí thực hiện chương trình đang được đề xuất theo hướng nào?

       

    Ông Phạm Kim Sơn, giám đốc Sở BCVT TP Đà Nẵng

     
     

    NĐ 64 là khung pháp lý đẩy nhanh tiến trình ứng dụng CNTT mà nền hành chính quốc gia đang đòi hỏi. Để xây dựng chính quyền điện tử, theo tôi, cần tiếp tục xây dựng hàng loạt quy trình, quy phạm và chuẩn mực để tạo ra sự thống nhất ở phạm vi toàn quốc, gồm: danh mục các dịch vụ công trong quản lý hành chính nhà nước, danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia, kiến trúc hệ thống thông tin quốc gia, định mức kinh tế kỹ thuật về tư vấn và thiết kế phần mềm, tiêu chuẩn đánh giá mức độ ứng dụng CNTT, quy chế quản lý đầu tư chuyên ngành CNTT...

     

    Nếu xây dựng chương trình theo hướng “siêu đề án”, trong đó có các chương trình, dự án cụ thể phân bổ cho các tỉnh/thành, bộ/ngành thì không phát huy được tính chủ động của các CQNN, dẫn đến tình trạng có nhiều dự án không phù hợp với thực tiễn. Chính vì vậy, chương trình thực hiện NĐ 64 giai đoạn 2007-2010 chỉ nêu ra những nhiệm vụ cần làm để các cơ quan chủ động xây dựng kế hoạch, dự án phù hợp với yêu cầu và thực tiễn ứng dụng CNTT trong phạm vi quản lý của mình.

    Kinh phí thực hiện chương trình có thể lấy từ nhiều nguồn nhưng chung quy chỉ có “một giỏ ngân sách”. Nếu CNTT thực sự được coi là động lực phát triển kinh tế - xã hội thì các địa phương hoàn toàn có thể bố trí được kinh phí tương xứng. Hơn nữa, dự thảo chương trình cũng đề xuất “mức sàn” 1% ngân sách nhà nước hằng năm cho ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình xây dựng kế hoạch.

    Nếu dựa vào vốn địa phương và theo kế hoạch năm thì việc thực hiện chương trình liệu có bị ảnh hưởng khi một số địa phương không cân đối được ngân sách?

    Thực tế, chỉ có một số tỉnh, thành phố tự cân đối được ngân sách. Đối với các tỉnh còn lại, hàng năm cần có ngân sách trung ương bù đắp cho các khoản chi ngân sách còn thiếu hụt. Như vậy, vấn đề nằm ở nhận thức về CNTT và khả năng xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT. Địa phương nào nhận thức được tầm quan trọng của CNTT và tổ chức tốt khâu xây dựng kế hoạch ứng dụng thì vấn đề kinh phí sẽ được giải quyết.

    GẮN VỚI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

    Chương trình đưa ra những giải pháp nào để gắn ứng dụng CNTT trong CQNN với công tác CCHC?

    Việc gắn kết ứng dụng CNTT với CCHC đã được thể hiện trong tất cả các nội dung của chương trình: quan điểm, mục tiêu, nội dung, giải pháp, tổ chức thực hiện. Hơn nữa, chương trình đã đề xuất giải pháp: Ban Chỉ Đạo (BCĐ) Quốc Gia về CNTT phối hợp với BCĐ Chương Trình CCHC căn cứ vào nội dung của hai chương trình xây dựng kế hoạch phối hợp hành động trong giai đoạn 2007-2010 để ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN thực sự thúc đẩy CCHC.

    Với quy định người đứng đầu cơ quan (vốn trực tiếp chịu trách nhiệm về CCHC) chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo ứng dụng CNTT, việc gắn kết giữa CCHC và CNTT sẽ đồng bộ hơn. Tôi cũng được biết BCĐ CCHC đã bổ sung thành viên là bộ trưởng bộ TTTT nhằm gắn kết tốt hơn CNTT với CCHC.

    Dự án phát triển CNTT&TT do WB tài trợ với số vốn gần 1.500 tỷ đồng có vị trí như thế nào trong chương trình thực hiện NĐ 64?

    Dự án này có mục tiêu thực hiện CPĐT ở 5 đầu mối: bộ TTTT, tổng cục Thống Kê, Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng. Có thể thấy ngay là Hà Nội và TP.HCM sẽ không thể xây dựng CPĐT chỉ bằng tài trợ của dự án này. Hiện nay, trong 5 đơn vị thì TP.HCM là đầu mối triển khai dự án WB chậm nhất. Một trong nhiều lý do là TP.HCM có nhiều dự án khác với nguồn vốn lớn hơn dự án của WB. Đối với bộ TTTT, dự án của WB sẽ giúp bộ nâng cao năng lực quản lý nhà nước về CNTT&TT. Một đóng góp cụ thể và quan trọng của dự án là xây dựng kiến trúc chuẩn hệ thống thông tin.

     

    Có thể vượt mục tiêu

     
     

    Điểm khác biệt cơ bản về mục tiêu là chương trình thực hiện NĐ 64 đặt ra các mục tiêu rất cụ thể, khả thi trong tầm nhìn dài hạn về CPĐT, có phân công trách nhiệm rõ ràng. Theo quan điểm của ban soạn thảo chương trình, nếu nhận thức về tầm quan trọng của CNTT nói chung và CPĐT nói riêng trở thành quyết tâm thực sự từ trên xuống thì tất cả các mục tiêu của chương trình đều có thể đạt và vượt.
    TS Nguyễn Thành Phúc

     

    Nguyễn Hưng (thực hiện)

    ID: B0709_18