• Thứ Ba, 09/10/2007 09:23 (GMT+7)

    Cái khó của kẻ đi trước

    Khi Đề Án 112 (ĐA 112) tham gia vào hệ thống hành chính, nó đơn phương; và khi tác động để tạo ra sự thay đổi trong nền hành chính, nó vô phương.

    Khi Đề Án 112 (ĐA 112) tham gia vào hệ thống hành chính, nó đơn phương; và khi tác động để tạo ra sự thay đổi trong nền hành chính, nó vô phương.

    Khi ông Vũ Đình Thuần, ông Lương Cao Sơn và một số cá nhân khác bị bắt, nhiều người nghĩ thất bại của ĐA 112 là do những cá nhân đó gây ra. Nếu sai phạm của những cá nhân này được khẳng định, có thể kết luận họ đã tham gia làm ĐA 112 sụp đổ.

    Nhưng họ có đóng vai trò chính trong thất bại của ĐA hay không? Giả sử vẫn với bộ máy ấy, trong bối cảnh ấy, nhưng trao quyền cho những cá nhân khác, tạm gọi là những “cá nhân sạch”, thì những “người sạch” đó có thực hiện nổi ĐA 112 không? E rằng, so với mục tiêu của những người thiết kế, ĐA đã thiếu những nền tảng quan trọng để thành công.

         

    Sự hăng say ban đầu, ảo tưởng về khả năng của công nghệ và có thể cả những mưu đồ tư lợi... đã che lấp những khó khăn mang tính nền tảng của ĐA 112.

    Trong những kết quả của ĐA 112 mà công văn số 4294 ngày 3/8/2007 của VPCP (v/v chuyển giao các kết quả của ĐA 112) nhắc tới, ngoài phần cứng, phần mềm còn có những “sản phẩm phục vụ hình thành cơ sở pháp lý về tin học hóa quản lý hành chính nhà nước”. Điều đó có nghĩa là ĐA 112 được thực hiện khi cơ sở pháp lý cho những hoạt động của nó còn rất thiếu, hoặc là những cơ sở hoàn toàn không thuận lợi cho việc làm tin học. Chính vì thế, ban điều hành (BĐH) ĐA phải tự lo hình thành lấy cơ sở pháp lý đó. Đây là việc vượt ra ngoài chức năng của BĐH một ĐA. Nhưng nếu không làm thì ĐA không triển khai được, cho nên họ phải xoay xở để “sáng chế” ra những quy định, quy trình cần thiết và tìm cách nhờ cơ quan này, cơ quan khác thông qua. Như thế, BĐH ĐA 112 đã gánh lấy trách nhiệm khó khăn của kẻ đi trước - kẻ khai hoang. Mặt khác, nhờ có thể tự tạo ra những “sản phẩm phục vụ hình thành cơ sở pháp lý”, họ cũng dễ lồng vào đó những yếu tố có lợi cho riêng mình.

    Khó khăn lớn hơn đối với BĐH ĐA 112, nằm ngay trong ý đồ của ĐA, phần nào thể hiện qua cái tên “tin học hóa quản lý hành chính nhà nước”, có thể hiểu là đưa tin học vào làm biến đổi hệ thống hành chính.

    Công bằng mà nói, việc đưa tin học vào các CQNN không phải không tạo ra thay đổi. Nhiều người nhờ đó đã làm quen với máy tính, biết đến Internet và hình thành ý thức về một phương tiện làm việc mới. Thế nhưng, nếu đơn phương tin học hóa, thì chỉ có thể đạt được đến mức ấy thôi, vì một khi tin học can thiệp sâu vào cơ chế hành chính nhạy cảm, bắt những con người đang làm theo guồng quay cũ phải thay đổi quy trình, phải chia sẻ thông tin, công khai thời hạn giải quyết công việc... thì sẽ gặp lực cản. Tin học đã “chạy” trước, nhưng sức ỳ của bộ máy hành chính là rất lớn, và điều đó làm cho chương trình tin học hóa bị lạc bước, trở thành một “dị thể” trong khối hành chính đó. Những trung tâm tích hợp dữ liệu hiện đại nằm đắp chiếu hoặc chỉ được sử dụng rất ít là một hình ảnh tiêu biểu.

    Thậm chí, có tỉnh (không làm theo ĐA 112), đã đưa dữ liệu đất đai chi tiết lên mạng, tuyên bố người dân có thể truy cập xem đất đai của cán bộ tỉnh, của nhà hàng xóm. Nhưng sau đó, người ta không còn thấy những dữ liệu chi tiết như thế trên mạng nữa. Đấy là sự trì níu của hệ thống hành chính lạc hậu, khó thay đổi, với rất nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp liên quan đến những lợi ích riêng tư.

    Nên khi ĐA 112 tham gia vào hệ thống hành chính, nó đơn phương bởi không thể bắt nhịp được với cả cơ cấu hiện hữu; và khi can thiệp tạo ra sự thay đổi sâu trong nền hành chính, nó vô phương bởi không thể làm được những việc quá khả năng! Không có sự cộng tác của chủ thể hành chính, khả năng hiện đại hóa của tin học chỉ là ảo tưởng. Cái khó của BĐH ĐA 112 lúc này là thi hành một lệnh vượt quá khả năng và tầm vóc của mình: cải tạo hệ thống hành chính.

    Nhiều người cho rằng ĐA 112 không có mối liên hệ mật thiết với đề án cải cách hành chính (CCHC) và đó là nguyên nhân khiến nó thất bại. Điều đó chỉ đúng một phần. “Nói chuyện” được với bộ phận CCHC chỉ tạo thêm thuận lợi chứ không làm thay đổi cục diện. Chừng nào bộ máy hành chính còn trì trệ, còn chưa thật sự có những thay đổi lớn, chừng đó tin học còn đứng ngoài lề.

    Ngược lại, khi bản thân bộ phận CCHC thật sự làm tốt, muốn thay đổi quy trình, muốn công khai minh bạch, quyết tâm xây dựng một nền hành chính hiện đại, vượt hẳn lên trên mặt bằng cũ kỹ hiện thời..., chắc chắn bộ phận CCHC sẽ có nhu cầu “nói chuyện” với “bên” tin học, chủ động chấp nhận đưa tin học vào ứng dụng cũng như những công nghệ khác làm phương tiện để đạt mục đích.

    Như vậy, ứng dụng CNTT hiệu quả phải xuất phát từ quyết tâm thay đổi mạnh mẽ công nghệ hành chính. Trong vai trò “người ra đề”, Nhà Nước cần công bố rõ ràng mình muốn gì (hệ thống hành chính theo mô hình nào, quy trình hành chính ra sao, dòng thông tin vận hành như thế nào, dữ liệu đầu vào là những gì và dữ liệu đầu ra là những gì...), càng cụ thể càng tốt. Phần việc còn lại sẽ là của giới tin học. Thậm chí tin học hay công nghệ gì không cần biết, miễn là giúp đạt mục đích:CCHC.

    Diêm Sơn

    ID: B0710_28