• Thứ Bảy, 10/11/2007 06:38 (GMT+7)

    Cơ sở dữ liệu quốc gia: Thay đổi cách tiếp cận

    Chúng ta đã bỏ qua đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống CNTT là tính tự động và chưa lường hết mọi khó khăn khi đưa một hệ thống tự động có quy mô lớn vào thực tế.

    Chúng ta đã bỏ qua đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống CNTT là tính tự động và chưa lường hết mọi khó khăn khi đưa một hệ thống tự động có quy mô lớn vào thực tế.

    Không thể “đồng khởi”

    Tôi tán thành ý kiến của tác giả Lê Mạnh Hà về nguyên nhân thất bại của đề án "Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước" (ĐA 112): do không chuyên nghiệp (không đúng người, không đúng tầm và không đúng việc), quản lý lạc hậu, không đồng bộ, không đúng quy định(1).

    Song chương trình quốc gia về CNTT giai đoạn 1996-2000 đâu có phạm 4 sai lầm trên mà cũng không thành công (nếu không muốn nói là thất bại)? Đâu là nguyên nhân sâu xa của những thất bại này? Nếu tìm được sẽ giúp ích trực tiếp cho chương trình cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia đang ở giai đoạn khởi động.

    Với một ứng dụng CNTT, các yếu tố liên quan đến kỹ thuật (trang bị phần cứng, phần mềm, các thiết bị ngoại vi) chỉ chiếm khoảng 20%, còn lại 80% là các yếu tố phi kỹ thuật như luật pháp, tổ chức, cơ chế, tâm lý, tập quán, văn hoá, xã hội... Nước ta mới đang trong quá trình xây dựng xã hội pháp quyền, nên người ta đánh giá, nhìn nhận, giải quyết vấn đề còn nặng về tình cảm, kiểu “một trăm cái lý chả bằng tí cái tình”. Trong điều kiện đó, việc đưa vào một hệ thống tự động lớn (đòi hỏi sự đồng bộ, tính chuẩn hóa tuyệt đối) trên phạm vi toàn xã hội là một việc hết sức khó khăn. Có lẽ những nhà hoạch định ĐA đã không lường hết khó khăn này để có biện pháp xử lý phù hợp, nên triển khai càng quy mô thì càng không đồng bộ. Tất yếu là các phần mềm dùng chung (PMDC) sẽ phải đắp chiếu chung, các trung tâm tích hợp dữ liệu không có dữ liệu hoặc có ít dữ liệu, không duy trì được sự tích hợp.

    Có lẽ nguyên nhân sâu xa của những thất bại này là cách tiếp cận của chúng ta trong triển khai các hệ thống CNTT có quy mô lớn. Chúng ta đã bỏ qua đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống CNTT là tính tự động và chưa lường hết mọi khó khăn khi đưa một hệ thống tự động có quy mô lớn vào thực tế. Khi xây dựng hệ thống CNTT, chúng ta đã chọn cách tiếp cận từ trong ra, từ dưới lên, theo kiểu “đồng khởi”, các bộ, ngành, địa phương đều làm, ai cũng được “chia phần”.

    Thay đổi cách tiếp cận

       

     

    Xác định danh mục CSDL quốc gia dù có tốn thời gian, tiền của cũng vẫn phải làm vì việc này không những giúp tránh được tổn thất, lãng phí mà còn củng cố lòng tin vào các chương trình CNTT cấp quốc gia và thúc đẩy hội nhập, cải cách kinh tế.

    Nếu chúng ta có cách tiếp cận khác, từ ngoài vào, từ trên xuống thì vấn đề sẽ khác. Rất nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã thực hiện thành công chính phủ điện tử (CPĐT) như một số nước châu Âu, Mỹ, Hàn Quốc, Singapore hay Hồng Kông, Đài Loan... Nếu ngay từ đầu chúng ta đặt vấn đề với những nước này, tìm kiếm một hệ thống CPĐT phù hợp nhất, nhập khẩu toàn bộ, thích ứng, Việt hóa rồi triển khai thì chúng ta không lặp lại sai lầm mà các nước khác đã trả giá, thời gian triển khai sẽ nhanh và quan trọng hơn là giải quyết được các vấn đề phi kỹ thuật. Các cán bộ ở từng vị trí của bộ máy nhà nước sẽ hiểu rõ trong công việc nghiệp vụ của mình việc nào phải làm trên máy tính và dữ liệu nào phải đưa vào hệ thống dữ liệu chung, mình có thể khai thác được những dữ liệu gì...

    Với cách tiếp cận này chúng ta đơn giản được phần thiết kế hệ thống, không phải bàn về việc có bao nhiêu PMDC, có bao nhiêu CSDL, bao nhiêu nghiệp vụ phải tin học hóa... Điều đó cho phép chúng ta rút ngắn thời gian triển khai và đảm bảo sự tương thích, hòa nhập với hệ thống của các nước khác. Các ứng dụng bổ sung như kiểu PMDC sẽ triển khai ở giai đoạn sau, khi hệ thống đã hoạt động.

    Chương trình xây dựng CSDL quốc gia cần rút bài học của ĐA 112, phải có cách tiếp cận khác, cách làm khác. Trước hết cần xác định danh mục các CSDL quốc gia, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước khác, nhất là những nước có hoàn cảnh tương tự Việt Nam, nước có nền kinh tế chuyển đổi ở khu vực Đông Nam Á.

    Khi xây dựng, cần phân chia CSDL quốc gia thành các loại khác nhau để có phương pháp triển khai phù hợp. Một nguyên tắc chung là thông tin phát sinh ở đâu thì ở đó đưa vào CSDL quốc gia. Đã có thời kỳ chúng ta triển khai theo kiểu cấp tiền ngân sách để thu thập thông tin rồi cập nhật vào các CSDL. Chúng ta cũng đã có các quy định về tạo lập dữ liệu điện tử như định mức nhập text, nhập các trường của CSDL có cấu trúc, xử lý ảnh, nhập ảnh... Thế nhưng, kết quả không được bao nhiêu, còn cấp kinh phí thì CSDL còn sống, hết cấp thì CSDL cũng teo. Nguyên nhân chính của tình trạng này là chúng ta không theo nguyên tắc nêu trên nên CSDL không phải là sản phẩm tự nhiên của quy trình công việc hàng ngày. Có nơi, để có CSDL về xuất nhập khẩu (XNK), người ta đã gom các tờ khai hải quan lại và nhập vào CSDL. Kết quả là sau vài năm thực hiện, CSDL về XNK đã phải đắp chiếu vì không đủ sức làm và không sử dụng được vì thiếu dữ liệu. Đúng ra, khi thực hiện thủ tục thông quan điện tử, các dữ liệu về XNK sẽ được cập nhật một cách tự động vào CSDL. Lúc đó CSDL về XNK mới là sản phẩm tự nhiên của thông quan điện tử.

    Đơn nguồn và đa nguồn

    Đối với các CSDL quốc gia có tính chuyên ngành, khép kín, chỉ do một cơ quan quản lý - CSDL đơn nguồn (ví dụ CSDL về xuất nhập khẩu, thống kê, chứng minh nhân dân, đăng ký phương tiện vận chuyển, tiêu chuẩn...) thì giao cho những cơ quan chuyên ngành đảm nhận. Công việc xây dựng các CSDL này chính là xác định cấu trúc, dữ liệu đầu vào, báo cáo đầu ra, quy trình, thao tác nghiệp vụ liên quan đến CSDL.

    Tuy nhiên cũng có những CSDL muốn có thông tin cần phải thu thập từ nhiều nguồn – CSDL đa nguồn. Ví dụ CSDL hồ sơ doanh nghiệp (DN). Hiện nay, ngành kế hoạch cấp đăng ký kinh doanh cho DN. Nhưng sau khi có đăng ký, DN có thể thuê trụ sở ở nơi khác, quá trình hoạt động thì DN quan hệ với ngành thuế để nộp thuế, ngân hàng trong thanh toán, tín dụng. Những CSDL loại này nên cho đấu thầu, các đơn vị, công ty có khả năng thực thi đưa ra phương án, Nhà Nước xem xét và hỗ trợ về pháp lý, một phần tài chính trong xây dựng, còn vận hành thì tự bù đắp chi phí.

    Với cách tiếp cận này, Nhà Nước chỉ phải bỏ tiền xây dựng (thiết kế, trang bị phần mềm, phần cứng, huấn luyện, chuyển giao) các CSDL đơn nguồn, mà không phải bỏ tiền hoặc tốn không đáng kể để vận hành vì đó là công việc hàng ngày của các đơn vị chuyên ngành. Với các CSDL đa nguồn, Nhà Nước chủ yếu hỗ trợ pháp lý, các CSDL sẽ tự nuôi sống bằng dịch vụ của mình.

    (1): “Những bài học từ đề án 112”, TGVT sê ri B tháng 10/2006.

    Thúy Hoàng Linh

    ID: B0711_30