• Thứ Tư, 23/01/2008 07:33 (GMT+7)

    Chính Phủ Điện Tử của Hàn Quốc

    Mặc dù cơ chế tổ chức về CNTT của Việt Nam (VN) có nhiều nét giống Hàn Quốc (HQ), nhưng HQ còn có nhiều điểm khác biệt quan trọng giúp hoạt động thực chất và hiệu quả.

    Ba điều ước cho CNTT VN

    Giá được ước 3 điều cho CNTT VN, có lẽ nhiều chuyên gia trong ngành CNTT sẽ ước:

    1. Cơ chế tổ chức về CNTT được kiện toàn, để có ngọn cờ tập hợp anh em trong ngành đem hết sở học và nhiệt tình ra cùng lo việc chung.

    2. Có kiến trúc CNTT quốc gia (VNITA), để công việc có giềng mối, khỏi ngổn ngang rối như tơ vò.

    3. Có cơ chế tài chính cho các dự án CNTT, để các dự án khỏi đầu voi đuôi chuột, dài cổ đợi vốn nhỏ giọt mà vẫn chẳng biết tiêu ra sao.

    Nhưng ước chung chung như vậy mà không có nội hàm cụ thể thì Bụt có hiện ra cũng không biết cho như thế nào. Thời gian vừa qua, có một số chuyên gia cao cấp HQ sang làm việc tại bộ Thông Tin và Truyền Thông (TTTT) để tham mưu cho VN về CPĐT. Họ trình bày những cách thức đã làm để đạt tới 3 điều ước nêu trên. HQ đã trải qua hai giai đoạn xây dựng CPĐT, thành công và kinh nghiệm đều nhiều. Chắc chắn những kinh nghiệm của họ đáng để chúng ta suy nghĩ.

    Cơ chế tổ chức về CNTT ở Hàn Quốc

    Ở HQ, các hoạt động về CPĐT và ứng dụng CNTT được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương được xem như là dự án CPĐT, sử dụng ngân sách tập trung. Các dự án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng bộ, ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc Quỹ Thúc Đẩy CNTT do bộ TTTT quản lý. Tương ứng, có hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: ban Thúc Đẩy Tin Học Hóa (IPC) và ban Đặc Biệt về CPĐT thuộc Ban Đổi Mới CP của Tổng Thống (PCGID).

         

    Những thiếu sót trong chương trình CPĐT giai đoạn 1 ở HQ đều do thiếu kiến trúc CNTT quốc gia.

    Ban Thúc đẩy Tin Học Hóa (IPC) có nhiệm vụ trông coi và khai thông các chính sách, kế hoạch và dự án để tạo điều kiện thúc đẩy HQ thành một xã hội thông tin tiên tiến. Ban này có trách nhiệm trông coi các chức năng về tin học hóa (THH), khởi xướng và hiệu đính kế hoạch các chiến lược về THH và các kế hoạch triển khai liên quan, điều phối việc xây dựng các dự án và các chính sách, xây dựng và sử dụng siêu xa lộ thông tin quốc gia, đưa ra các biện pháp quản lý và vận hành các nguồn tài chính, đánh giá hiệu quả của các chính sách và hoạt động về CNTT.

    Trưởng ban IPC là thủ tướng, 24 bộ trưởng các bộ là ủy viên, bộ TTTT (MIC) là thường trực. IPC gồm có các ban Điều Hành THH gồm 24 thứ trưởng; ban Tư Vấn THH gồm các chuyên gia, doanh nghiệp (DN). Hỗ trợ các vấn đề kỹ thuật, thực thi và triển khai cho IPC là cục THH Quốc Gia trực thuộc bộ TTTT. Ngoài ra còn có ban Đánh Giá về THH Quốc Gia.

    Ban đặc biệt về CPĐT (EGSC) thuộc ban Đổi Mới Chính Phủ của Thủ Tướng, gồm 18 ủy viên, trong đó có 5 thứ trưởng của các bộ liên quan và rất nhiều chuyên gia, chủ yếu là các giáo sư đại học. Thường trực là bộ Nội Vụ. Hỗ trợ cho EGSC là văn phòng chịu trách nhiệm về hành chính. Cục THH Quốc Gia (NIA) chịu trách nhiệm hỗ trợ triển khai các dự án đổi mới dịch vụ công (G2C và G2B), đổi mới khung pháp lý về CPĐT; hỗ trợ kỹ thuật các bộ phận: tiểu ban chuẩn bị cho các kỳ họp của trưởng ban, tiểu ban cải cách lề lối làm việc (G2C), tiểu ban hạ tầng, nguồn lực CNTT và kiến trúc.

    Mặc dù ở VN cũng có 2 tổ chức tương đương là Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT và Ban Chỉ Đạo về Cải Cách Hành Chính nhưng có thể thấy ở HQ những điểm khác biệt quan trọng đảm bảo hoạt động có hiệu quả và thực chất:

    • Có sự tham gia trực tiếp, thường xuyên và thực sự từ các cấp lãnh đạo cao cấp nhất (tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng, thứ trưởng)

    • Có bộ máy tổ chức chuyên nghiệp với chức năng rõ ràng và hoạt động thực sự, không chỉ họp rồi chỉ đạo không có nghiên cứu chuẩn bị như ở VN

    • Có các cơ quan chuyên nghiệp mạnh như NIA hỗ trợ về kỹ thuật và triển khai các hoạt động thực thi. Sau khi các ban chỉ đạo đã có kết luận, sẽ có người chịu trách nhiệm thực hiện và báo cáo. Các nội dung kỹ thuật cần ý kiến chỉ đạo đã có một bộ máy chuyên nghiệp chuẩn bị kỹ càng. Đáng chú ý là, NIA tuy trực thuộc bộ TTTT nhưng vẫn hỗ trợ về kỹ thuật cho bộ Nội Vụ, làm cầu nối cho các nội dung CPĐT và ứng dụng CNTT, đảm bảo tính thống nhất về hệ thống

    • Các vấn đề chuyên sâu đều được đưa ra nghiên cứu và thảo luận kỹ tại các tiểu ban trước khi tổng hợp xin ý kiến các ủy viên hoặc đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể.

    Kiến trúc CNTT quốc gia

    Ở VN cũng đã bàn về việc xây dựng kiến trúc CNTT quốc gia (Xem “Sự cần thiết của kiến trúc thông tin quốc gia”, TGVT sê-ri B 4/2006), và trong dự án “Phát triển CNTT ở VN” cũng đã có một hợp phần khá lớn của việc này. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa ngã ngũ cần làm thế nào và quan trọng hơn là sẽ đem ra sử dụng ra sao.

    Nghị định 64/2007/NĐ-CP tuy có quy định về việc xây dựng và ứng dụng “Kiến trúc hệ thống chuẩn” (KTHTC), tuy nhiên KTHTC này chỉ thiên về kỹ thuật mà vẫn chưa phải là kiến trúc CNTT theo đúng nghĩa “làm cơ sở cho chuẩn hóa, nâng cao chất lượng hệ thống, đồng bộ hóa CNTT với tác nghiệp, sở cứ đầu tư về CNTT và các dịch vụ chia sẻ thông tin trong CP”.

    Hiện nay, có nhiều ý kiến lo ngại rằng việc đưa ra một kiến trúc CNTT phải có một khung pháp lý cao hơn vì nội dung có thể “đụng” với các luật, nghị định hiện hành về quản lý các dự án. Tuy nhiên, người viết bài này cho rằng, theo tinh thần của nghị định 99/2007/NĐ-CP, hoàn toàn có thể công bố kiến trúc CNTT với các nội dung phù hợp với luật pháp hiện hành, đồng thời nếu có thể nhanh chóng đưa khái niệm này vào một văn bản luật về CPĐT, việc triển khai ứng dụng CNTT và CPĐT sẽ suôn sẻ và mạnh mẽ hơn.

    Tháng 12/2005, Quốc Hội HQ đã thông qua đạo luật “Xây dựng và duy trì có hiệu quả hệ thống thông tin quốc gia”. Đạo Luật này gồm có các nội dung chính liên quan đến kiến trúc CNTT quốc gia (ITA), như: xây dựng các tài liệu hướng dẫn và mô hình tham chiếu về ITA; xây dựng hệ thống quản lý ITA; đánh giá thường xuyên tình hình xây dựng và ứng dụng ITA; sử dụng ITA để quản lý chất lượng các hệ thống CNTT; trước ngày 1/7/2007, tất cả các bộ và các địa phương đều phải hoàn thành lộ trình xây dựng kiến trúc CNTT của mình...

    Theo đánh giá chung, những thiếu sót trong chương trình CPĐT giai đoạn 1 ở HQ đều do thiếu ITA. Chính vì vậy, việc xây dựng ITA được xem là tâm điểm của chương trình CPĐT giai đoạn 2, nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư về CNTT, giảm đầu tư trùng lắp và tăng khả năng tích hợp.

    Việc triển khai ITA được chia làm 5 giai đoạn: Nâng cao nhận thức về ITA - Xây dựng môi trường cho ITA - Phát triển xây dựng ITA - Kiện toàn ITA và đồng bộ hóa với các quy trình tác nghiệp - Sử dụng ITA làm công cụ để điều chỉnh các hoạt động ứng dụng CNTT và CPĐT.

    Cơ chế tài chính cho các dự án

    Nguồn vốn cho các dự án về THH và CPĐT tại HQ được huy động chủ yếu từ ba nguồn:

    Ngân sách chung cho các dự án THH: Nguồn ngân sách này được phân bổ trong ngân sách đầu tư và chi thường xuyên của mỗi bộ, ngành và địa phương theo kế hoạch hàng năm, tương tự như cách làm hiện nay ở VN. Các dự án này thường được thực hiện đơn lẻ tại mỗi bộ, ngành và địa phương.

    Ngân sách cho các dự án thuộc chương trình CPĐT: Đây là nguồn ngân sách tập trung, thuộc về bộ Kế Hoạch và chịu kiểm soát của bộ Nội Vụ, do cục THH Quốc Gia quản lý và sử dụng cho các dự án mang tính liên bộ, ngành và địa phương. Cách quản lý ở đây là tập trung như một đề án lớn của CP.

    Quỹ Thúc Đẩy THH: do bộ trưởng TTTT toàn quyền quyết định. Quỹ này sử dụng vốn cho vay của CP, đóng góp theo tỷ lệ doanh thu hàng năm của các DN viễn thông (gần giống Quỹ Dịch Vụ Viễn Thông Công Ích tại VN) và lợi nhuận do hoạt động đầu tư của quỹ đem lại.

    Yêu cầu về ngân sách cần phải trình cùng với các báo cáo bắt buộc theo các biểu mẫu cho trước như sau:

    • Cải cách quy trình tác nghiệp (Business Process Reengineering - BPR): trình bày các phương án sử dụng kết quả của dự án và tạo ảnh hưởng tới việc cải cách hành chính, đổi mới quy trình tác nghiệp.

    • Kế hoạch chiến lược thông tin (Information Strategy Plan - ISP): trình bày các dòng trao đổi thông tin trong hệ thống, các hệ thống xử lý và các chủ thể sử dụng.

    • Kế hoạch đánh giá hiệu quả (Performance Plan - PP): hệ thống các chỉ tiêu và quy trình đánh giá.

    Dự toán chi phí cho dự án CNTT

    Dự toán chi phí cho các dự án CNTT được tiến hành dựa trên một cẩm nang hướng dẫn xây dựng dự toán về CNTT được bộ TTTT ban hành. Ý tưởng chính là tách các chi phí thành các thành phần riêng rẽ, các thành phần này lại tách nhỏ nếu cần. Mỗi thành phần sẽ có đơn giá điều chỉnh dựa trên giá thị trường và nguyên tắc tính toán. Các thành phần chính gồm có:

    • Chi phí tư vấn: xây dựng ISP, BPR, PP..., dựa trên đơn giá tư vấn.

    • Chi phí xây dựng phần mềm: gồm chi phí trực tiếp (mua các công cụ phần mềm thương mại), chi phí phát triển (dựa trên hàm chức năng cho tiền kiểm hoặc dòng lệnh cho hậu kiểm) và tỷ lệ lợi nhuận (khoảng 10%) cho nhà phát triển.

    • Chi phí xây dựng cơ sở dữ liệu: dựa trên quy mô dữ liệu. Bao gồm công lao động, chi phí cơ sở dữ liệu ( ~ 75% công lao động), tỷ lệ lợi nhuận (~ 10% công lao động + chi phí) và chi phí trực tiếp (mua các công cụ cần thiết).

    • Chi phí xây dựng hạ tầng: bao gồm chi phí phần cứng, chi phí thiết kế và các chi phí bảo đảm môi trường cho hệ thống hoạt động khác.

     

     

    Kiến trúc CNTT (ITA) của Hàn Quốc được triển khai theo các nhóm nhiệm vụ:
    1. Thực thi Luật: Đưa ITA vào các tài liệu pháp lý, phân công cho cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm triển khai ITA.
    2. Xây dựng nền tảng: Xây dựng các tài liệu hướng dẫn, mô hình tham chiếu, chuẩn; xây dựng hệ thống quản lý ITA.
    3. Triển khai cho các cơ quan CP: Bộ TTTT và bộ Nội Vụ triển khai dự án thử nghiệm về ITA (2004); văn phòng CP và bộ Kế Hoạch và Đầu Tư triển khai dự án thử nghiệm về ITA (2005); mở rộng ITA từ tất cả các cơ quan CP đến các DN có sở hữu vốn nhà nước.
    4. Đào tạo và tuyên truyền: Đào tạo đội ngũ kiến trúc sư ITA; tăng cường năng lực về ITA trong cơ quan nhà nước; vận hành diễn đàn về ITA, tổ chức các chuyên gia về ITA.

    Lệnh Lỗi Dương

    ID: B0801_44