• Thứ Tư, 23/04/2008 07:22 (GMT+7)

    Nhân sự CNTT tại cơ quan nhà nước

    Cụm bài đề cập về sự chuyển dịch nhân sự CNTT từ cơ quan nhà nước (CQNN) ra bên ngoài, sự thiếu hụt nhân lực CNTT ngay tại các CQ quản lý nhà nước chuyên ngành CNTT và kiến nghị hướng giải quyết.

    Cụm bài đề cập về sự chuyển dịch nhân sự CNTT từ cơ quan nhà nước (CQNN) ra bên ngoài, sự thiếu hụt nhân lực CNTT ngay tại các CQ quản lý nhà nước chuyên ngành CNTT và kiến nghị hướng giải quyết. 

    CÓ CIO LÀ TỐT NHẤT!

    Ông Lê Mạnh Hà, giám đốc sở BCVT TP.HCM nói về công việc, vị trí, vai trò của nhân sự CNTT tại các CQNN và các tổ chức; đòi hỏi về chuyên môn và tương lai của họ...

    Bất cập về nhân sự

    Về vấn đề nhân sự CNTT tại các cơ quan nhà nước (CQNN) và các tổ chức, ông Hà cho biết còn nhiều bất cập. “Chẳng hạn như bài học về nhân sự của đề án 112. Người chủ trì triển khai đề án thiếu kiến thức về CNTT. Nhiều người tham gia vào đề án chỉ biết về CNTT mà không am hiểu và không có kinh nghiệm về quản lý nhà nước (QLNN). Hiện vẫn tồn tại tình trạng này trong CQ QLNN về CNTT từ Trung Ương đến địa phương, báo trước những bất ổn. Nhiều người xây dựng chương trình, đề án rất lớn nhưng lại chưa làm thực tế bao giờ, chưa triển khai một dự án nào dù là nhỏ nhất và chưa bao giờ làm quản lý ở một đơn vị hành chính. Hơn nữa, đang có hiện tượng: thợ mới học nghề chỉ huy các bác thợ cả”.

    “Nhiều người còn cho rằng, CQ chuyên trách CNTT là làm công tác chuyên môn và công chức của cơ quan này phải có chuyên ngành CNTT. Thực ra, đây là CQ QLNN của một ngành kinh tế - kỹ thuật nên gồm cả người chuyên ngành về kinh tế, pháp luật, các ngành khác và đòi hỏi phải có kỹ năng, năng lực QLNN. Sở BCVT TP.HCM có phòng Kế Hoạch - Tổng Hợp, nhân sự đa phần không học ngành CNTT nhưng hiệu quả công việc rất cao. Số nhân sự chuyên về CNTT ở sở BCVT TP.HCM chỉ dưới 50%. Nếu chỉ sử dụng chuyên môn (CNTT) thuần tuý thì nhân sự nên làm việc ở các trường, viện”.

    Ông Hà giải thích: “Sở BCVT TP.HCM vẫn đặt yêu cầu là có kiến thức CNTT với các nhân sự, nhưng hướng phát triển là phải làm được công tác quản lý. Đòi hỏi trình độ chuyên môn và quản lý ở sở song hành nhưng chức năng quản lý quan trọng hơn. Với sở BCVT, cơ hội nghề nghiệp mở rộng cho mọi đối tượng ngành nghề. Thực tế là có nhiều chuyên viên ở đây tốt nghiệp ngành khác nhưng sau khi nắm được CNTT, họ đã phát triển rất tốt. Nhiều chuyên viên CNTT qua thực tế công việc đã hiểu rõ hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp, làm tốt công tác tham mưu”.

    Bất cập về tổ chức

    “Hiện, chỉ có các CQ chuyên trách về CNTT ở cấp bộ và cấp tỉnh. Cấp bộ có trung tâm CNTT hoặc cục CNTT, cấp tỉnh có sở BCVT. Cấp huyện và cấp sở (ngoài sở BCVT) hoàn toàn không có CQ chuyên trách và không có chức danh chuyên viên CNTT. Do vậy, nhiều nơi có người đảm trách phần CNTT nhưng phải ăn lương của chuyên viên văn phòng như văn thư, đánh máy. Nhiều người vẫn coi họ không khác gì thợ điện, thợ nước: hỏng đâu sửa đó”, ông Hà bức xúc.

    Ông cho biết, có một bất cập mới từ nghị định 14/2008/NĐ-CP: Quy định tổ chức các CQ chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố (thuộc tỉnh); “đưa” hết việc quản lý BCVT, Internet, CNTT, báo chí, xuất bản trên địa bàn về phòng Văn Hoá – Thông Tin (VHTT). Thực sự đây là khó khăn với phòng VHTT vì họ không chuyên về các ngành kỹ thuật, chưa bao giờ quản lý hạ tầng. Nếu các phòng VHTT giữ nguyên biên chế thì họ phải cử người đi học CNTT-Viễn Thông (VT) và quản lý CNTT-VT. Người có giỏi mấy cũng khó hoàn thành nhiệm vụ.

    Ngoài việc phải tham mưu phát triển công nghiệp CNTT, dịch vụ VT – Internet, họ còn phải xử lý những vấn đề liên quan đến quản lý hạ tầng đô thị như: người dân kiện nhà khai thác VT di động về việc xây dựng trạm BTS, sự cố đứt cáp VT do vô tình hay cố ý, những vấn đề khác thuộc quản lý trật tự đô thị như hoạt động sai quy định của các quán cà phê Internet... Nếu như khi xây dựng nghị định, các bộ chịu khó lấy ý kiến của địa phương thì sẽ tốt hơn rất nhiều.

    TP.HCM đã triển khai hệ thống CNTT ở hầu hết các quận, huyện, sở, ngành, do vậy khối lượng công việc để đảm bảo cho hệ thống hoạt động là rất lớn nên rất cần có chuyên trách về CNTT. “Chúng ta trang bị một hệ thống rất lớn mà không có người vận hành thì cũng giống như mua xe ô tô mà không có người lái”, ông Hà mô tả. “Các đơn vị đều có những chức danh kế toán trưởng, kế toán viên..., nhưng chưa có chức danh phụ trách CNTT. Chức danh này có thể là chuyên trách, trưởng bộ phận, trưởng phòng hay giám đốc (giám đốc CNTT - CIO). Đối với DN, cần có CIO ở vị trí tương đương như giám đốc tài chính (CFO) là tốt nhất vì đây là vị trí thuộc thành phần lãnh đạo của công ty. Trưởng phòng cũng tốt nhưng từ chức này trở xuống, nhân sự chỉ thừa hành, không được tham gia các cuộc họp lãnh đạo, trong khi vạch chiến lược phát triển, lên kế hoạch đầu tư CNTT... là công việc của tầm lãnh đạo!”.

     

     

     

     

    Để cán bộ CNTT không “từ quan”...
    “Đà Nẵng là một thành phố năng động và đi đầu về chính sách thu hút nhân tài. Với hàng loạt chương trình, dự án về CNTT-TT từ nay đến 2010 (chương trình phát triển công nghiệp PM, chương trình phát triển hạ tầng CNTT, chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN, dự án xây dựng khu công viên PM...), Đà Nẵng cần khoảng 70 cán bộ, chuyên viên về CNTT với năng lực chuyên môn vững và ít nhất 3 năm kinh nghiệm.
    Thế nhưng, thời gian qua, sở BCVT Đà Nẵng cũng không tránh khỏi thực trạng “chảy máu chất xám” cán bộ CNTT từ các CQNN. Mặc dù Sở đã cố gắng tuyển thêm nhân lực nhưng với tình trạng lương bổng công chức như hiện nay, việc tuyển được người đáp ứng yêu cầu vô cùng khó khăn, chưa nói đến việc giữ người. Ví dụ, trong cả năm 2006, Sở tuyển được 1 sinh viên giỏi mới ra trường theo chính sách thu hút nhân lực của UBND TP.Đà Nẵng. Sau gần 1 năm, nhân viên này xin nghỉ mà nguyên nhân chính là lương bổng quá thấp, không đủ nuôi sống bản thân.
    Việc thiếu nhân lực có chất lượng trong các CQNN là một vấn đề lớn. Phải có giải pháp đồng bộ từ Trung Ương đến địa phương, giữa các cấp ngành trong toàn bộ hệ thống bộ máy nhà nước... mới có thể giải quyết vấn đề này một cách căn cơ. Cụ thể, mức lương phải phù hợp (phù hợp chứ khó đạt mức thỏa đáng, ít nhất phải đủ nuôi sống bản thân và 2 người phụ thuộc về kinh tế trong gia đình). Thứ đến, phải xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, dân chủ, công bằng, minh bạch, tin cậy và thân thiện trong CQ, tạo được động lực làm việc cho người lao động nói chung. Hơn thế, người đứng đầu CQ cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc cải thiện đời sống cho nhân viên”
    Phạm Kim Sơn, giám đốc sở BCVT (từ 1/4/2008 là sở TTTT) Đà Nẵng.

     

    Chỉ cầu CNTT được nhắc đến...

    CNTT thực sự quan trọng. Trong cuộc sống hàng ngày, trong các cuộc gặp gỡ cấp cao giữa Việt Nam với các nước, CNTT đều được nhắc đến, được quan tâm. Nếu như CNTT cũng được nhắc đến trong các cuộc họp của Chính Phủ, của UBND dù chỉ 1 lần trong 1 quý cũng sẽ tốt hơn rất nhiều cho phát triển ngành.

    Về phần mình, những người làm CNTT phải thuyết phục được và làm cho mọi người biết đến và cần nghề của mình. Chúng tôi đẩy mạnh các ứng dụng CNTT tại CQNN trên địa bàn TP.HCM, bắt đầu từ quận, huyện, nơi giải quyết công việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân - nơi nhiều thông tin nhất và do vậy cần đến CNTT nhất. Bước đầu, chúng tôi đã thành công. Qua thành công của những triển khai ứng dụng mới, chúng ta có thể chứng minh được sự cần thiết của CNTT, đặc biệt là sau thất bại của đề án 112.



    TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN...

    Những trao đổi về hiện trạng nhân sự trong cơ quan nhà nước (CQNN) của ông Huỳnh Nguyễn Anh Kiệt, trưởng phòng CNTT sở BCVT Khánh Hòa.

    Năng lực: Thừa mà thiếu!

    Để triển khai ứng dụng CNTT nhằm “tin học hóa – hiện đại hoá” nền hành chính công, các CQNN phải có đội ngũ nhân lực CNTT. Nhưng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng vị trí CNTT trong cơ cấu bộ máy tổ chức như thế nào có lẽ không ít các vị lãnh đạo chưa có trả lời cụ thể. Nếu giữ quan điểm nguồn lực CNTT trong CQNN chỉ đơn thuần chăm sóc hệ thống hạ tầng kỹ thuật CNTT thì chúng ta đang lãng phí, vì đa số chuyên viên CNTT hiện nay đều có trình độ kỹ sư trở lên, trong khi công việc nói trên chỉ cần các kỹ thuật viên.

    Nếu nêu yêu cầu cao hơn như phải chịu trách nhiệm về chiến lược phát triển ứng dụng CNTT cho CQNN thì nguồn lực hiện chưa đủ tầm, do chưa có nhân sự đủ kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm trong hoạt động quản lý nhà nước và quan trọng hơn là chưa có “chức danh xứng đáng” để hoàn thành nhiệm vụ. Xác định vị trí nhân lực CNTT trong CQNN thế nào?

    Nên thống nhất mục tiêu ứng dụng CNTT trong CQNN trước! Đó là nhằm tối ưu hóa các quy trình tác nghiệp hành chính để đảm bảo sự thống nhất, chính xác và minh bạch. Kế đến là mang lại tính tiện ích cao nhất cho các đối tượng phục vụ là người dân và DN; nâng cao hiệu quả và năng lực cho bộ máy điều hành, quản lý.

    Để đạt được mục tiêu này, các CQNN, TC phải có nhân sự chuyên trách về CNTT, người biết chính xác điểm mạnh, điểm yếu và năng lực của các nguồn lực tham gia quy trình quản lý hành chính nhà nước và đưa ra được chiến lược, phương án tác động bằng CNTT một cách mềm dẻo, thích hợp. Đồng thời, phải có người đó CQNN mới có thể kiểm soát việc triển khai các chiến lược, phương án nói trên. Vị trí nhân sự này không thể đặt ở đâu khác ngoài vị trí lãnh đạo cơ quan. Quan niệm sai và đặt không đúng chỗ vị trí này của nhân sự CNTT đã dẫn đến thất bại cho nhiều dự án ứng dụng CNTT trong CQNN thời gian qua.

    Nguồn nhân lực CNTT trong CQNN có thể chia thành 2 bộ phận: Một là bộ phận lãnh đạo cơ quan cần có cho mọi CQNN và hai là bộ phận hỗ trợ kỹ thuật. Bộ phận hỗ trợ kỹ thuật tùy theo quy mô ứng dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện biên chế mà có thể có hoặc không (vì có thể thuê dịch vụ bên ngoài). Theo nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính Phủ thì chức danh giám đốc CNTT (CIO) hiện nay chỉ mới có ở bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ. Đối với địa phương, chỉ có duy nhất thủ trưởng CQNN quản lý về CNTT (sở BCVT - nay là sở Thông Tin Truyền Thông...) đảm nhận vai trò CIO. Các CQNN khác không có chức danh này. Đây có lẽ cũng là một hạn chế cần xem xét điều chỉnh nếu muốn tiếp tục ứng dụng có hiệu quả.

    Làm gì để xây dựng nguồn nhân lực CNTT trong CQNN?

    Hiện, việc tuyển dụng nhân sự CNTT trong các CQNN hầu như không mấy thành công. Ngoài những bất cập trong chế độ lương bổng thì với cách phân tích vị trí đã nêu, việc tạo ra môi trường tốt để lực lượng này phát triển cũng khó khả thi. Mặt khác, do các lý do khác nhau mà nhân lực CNTT được tuyển dụng cũng hiếm có cơ hội vươn lên vị trí lãnh đạo cơ quan để trở thành CIO. Cũng vì vậy mà việc họ rời khỏi CQNN khi có điều kiện là việc không thể ngăn cản.

    Tuy vậy, việc tuyển dụng thêm nhân sự CNTT từ bên ngoài cho CQNN lại rất khó. Vì vậy, hướng đi khả dĩ và hiệu quả là xây dựng từ chính nội tại: Không ai khác, lãnh đạo CQNN phải nhận nhiệm vụ CIO. Vấn đề còn lại là cơ chế trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng quy định bằng văn bản pháp luật và chế độ đào tạo hợp lý về kiến thức và kỹ năng CIO.

    Cơ chế trách nhiệm phải đủ lực để không thể thoái thác (nếu triển khai ứng dụng CNTT không hiệu quả thì sẽ không xem xét bổ nhiệm ở nhiệm kỳ kế tiếp...). Theo hướng phát triển này, ngoài được các lợi điểm về kỹ thuật trong việc xây dựng chiến lược và phương án ứng dụng, CQNN còn tạo được động lực cần thiết để thúc đẩy hoạt động ứng dụng. Lãnh đạo đã vào cuộc thì cấp dưới không thể không làm theo.

    Những đặc thù tại CQ QLNN về CNTT?

    Khác với nhân lực CNTT trong CQNN nói chung, nhân lực CNTT trong cơ quan quản lý nhà nước (CQ QLNN) về CNTT, ngoài kiến thức QLNN phải am hiểu CNTT. Đây là một thách thức! Bởi lẽ, mỗi người khi quyết định vào làm cho một tổ chức nào đó đều kỳ vọng các yếu tố: lương, điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến (bao gồm cả chức vụ và nâng cao kiến thức chuyên môn). Hiện cả 3 kỳ vọng trên rất khó đạt được ở CQNN. Tạm gác qua một bên yếu tố lương (vì đây là chế độ chung cho cả bộ máy QL hành chính), thì các yếu tố còn lại về nguyên tắc đều có thể đáp ứng được cho nguồn nhân lực CNTT nhưng trong thực tế, chưa thấy nơi nào làm tốt được việc này.

    Về môi trường làm việc, tại khoản 1 điều 23 nghị định số 64/2007/NĐ-CP có quy định: “Cán bộ chuyên trách về CNTT trong các CQNN được hưởng chế độ ưu đãi về điều kiện làm việc”. Nhưng để có được một môi trường làm việc tốt thì phải thông qua hoạt động đầu tư mua sắm; và đây mới chính là một rào cản ghê gớm bởi vì các CQ có thẩm quyền thẩm định hoặc quyết định đầu tư đều không thể dễ dàng hiểu tại sao lại phải đầu tư môi trường làm việc cho CQNN này đặc biệt hơn các CQNN khác.

    Về cơ hội thăng tiến thì càng “khó khăn” hơn. Để thăng tiến được trong CQNN, phải đáp ứng các điều kiện: chuyên môn nghiệp vụ và QLNN, có phẩm chất chính trị, quan hệ; trong đó phẩm chất chính trị và quan hệ là các điều kiện được ưu tiên nhiều hơn nhưng lại thường khó đáp ứng được đối với nhân sự CNTT. Với việc nâng cao kiến thức chuyên môn cũng vậy, ngoài nguyên nhân hạn chế do sự hạn hẹp về kinh phí thì một nguyên nhân “tế nhị” khác cũng đóng vai trò cản trở rất quan trọng: Đó là tâm lý e ngại của chính CQNN bị “mất nguồn nhân lực” sau khi cho đi đào tạo.

    Với tất cả các đặc điểm và hiện trạng đã nêu trên thì bài toán “nguồn nhân lực” cho CQ QLNN về CNTT hiện nay vẫn chưa thể có lời giải. Và, nghịch lý đã và đang diễn ra là “người dở quản lý người giỏi”, “người ít chuyên môn lại làm chính sách phát triển cho ngành có chuyên môn rất cao”. Hệ quả sẽ là sự “trì trệ” hoặc “thỏa hiệp”, tạo môi trường thiếu lành mạnh, minh bạch, cản trở sự nghiệp phát triển CNTT chung của đất nước.

    Vấn đề đã đến lúc phải có sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo cấp cao và cần có những tác động tích cực, mạnh mẽ mang tính “cách mạng” và đồng bộ từ Trung Ương đến địa phương.


     

     

     

     

    Theo quy tắc thị trường!
    “Giải bài toán nhân lực CNTT cho các CQ nhà nước cũng phải theo quy tắc kinh tế thị trường. Trước đây, nhiều người được đề án 112 đào tạo về quản trị mạng. Học xong, họ xin ra ngoài làm vì lương bên ngoài 10 – 15 triệu đồng, thậm chí 20 triệu đồng/tháng, không có lý do gì ở lại. Nhà nước cứ đào tạo để họ đi mất rồi lại đào tạo..., sẽ rất lãng phí. Tại sao không thuê DN quản lý? Có nhiều phần công việc hoàn toàn có thể thuê DN làm. Với trình độ CNTT như hiện nay, việc thuê ngoài không khó. Người Ấn Độ còn được thuê quản lý cả nhà máy điện ở London kia mà!”
    TS Nguyễn Chí Công, chuyên gia CNTT

     



    Việt Dũng - Đại Nguyên - Thu Nga - Nguyễn Hưng 
    ID: B0804_36