• Thứ Tư, 23/04/2008 07:22 (GMT+7)

    Vài giải pháp tăng tốc

    Đào tạo về ứng dụng CNTT cho cán bộ lãnh đạo; xác định rõ mục tiêu, đối tượng, lộ trình ứng dụng; nâng cao vai trò điều phối của cơ quan quản lý về CNTT... là những việc cần làm ngay để đẩy nhanh ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước.

    Đào tạo về ứng dụng CNTT cho cán bộ lãnh đạo; xác định rõ mục tiêu, đối tượng, lộ trình ứng dụng; nâng cao vai trò điều phối của cơ quan quản lý về CNTT... là những việc cần làm ngay để đẩy nhanh ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước.

    Nhận thức của lãnh đạo

    Ngành CNTT là ngành kỹ thuật cao, tuy nhiên ứng dụng CNTT lại mang tính nghiệp vụ quản lý và tính xã hội, liên quan đến tất cả các lĩnh vực chuyên môn và từng đơn vị chuyên ngành, đến toàn xã hội và từng người dân. Hiệu quả của ứng dụng CNTT được đánh giá qua việc sử dụng các công cụ máy tính, phần mềm (PM) ứng dụng và cơ sở dữ liệu phục vụ công việc thường xuyên của bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) và các dịch vụ mà nó mang đến cho từng người dân, doanh nghiệp (DN). Để ứng dụng CNTT có hiệu quả thực sự, đòi hỏi phải có một sự thay đổi từ nhận thức đến hành động, mang tính tích lũy và kiên trì, thậm chí giai đoạn đầu có cảm tưởng như làm chậm tốc độ vận hành của bộ máy. Nhưng nếu vượt qua giai đoạn đầu thì tốc độ sẽ tăng gấp nhiều lần và hiệu quả sẽ rất lớn.

       

     

    Bài học từ Đề Án 112 cho thấy khi không xác định rõ hoặc xác định quá rộng mục tiêu và đối tượng cho từng giai đoạn cụ thể sẽ dẫn đến tình trạng không kiểm soát được lượng đầu tư và hiệu quả.

    Có thể nói 100% lãnh đạo các cơ quan QLNN đều tuyên bố sẵn sàng ứng dụng CNTT cho QLNN, tuy nhiên rất ít người có thể xác định được nội dung, hình thức, lộ trình, phương thức triển khai ứng dụng CNTT. Đặc biệt, họ chưa biết sử dụng thành quả của hệ thống thông tin (HTTT) trong việc kiểm soát hoạt động của bộ máy hành chính (HC), trong việc tổng hợp, phân tích thông tin để hoạch định chiến lược. Thực tế cho thấy lãnh đạo từ cấp quận/huyện trở lên còn có khái niệm chung chung về CNTT. Còn lãnh đạo phường/xã thì hầu như không có khái niệm và rất ngại ngùng khi nói về CNTT.

    Đặc thù của bộ máy QLNN những năm gần đây ở Việt Nam là cán bộ quản lý phần lớn được đào tạo từ các ngành khoa học kỹ thuật hoặc kinh tế, sau một thời gian làm việc được đào tạo thêm về QLNN. Ngoài ra yêu cầu đầu vào về tin học của nhân sự QLNN là bằng A tin học, chỉ giải quyết kỹ năng sử dụng máy tính đơn giản và sử dụng các PM văn bản. Cho đến thời điểm này, chưa có một chương trình nào đào tạo hoặc bổ túc kiến thức cơ bản về quản lý và ứng dụng CNTT, mặc dù chắc chắn tương lai gần CNTT không thể thiếu trong tất cả các hoạt động của bộ máy HCNN.

    Việc triển khai ứng dụng CNTT chỉ mang tính đồng bộ và hiệu quả khi và chỉ khi lãnh đạo của từng cấp coi ứng dụng CNTT là nhiệm vụ thường xuyên của mình, là công cụ hoạt động không thể thiếu của bộ máy HC, và chính những vị lãnh đạo này phải trực tiếp tham gia vào hệ thống. Kinh nghiệm cho thấy nguyên nhân chính của việc triển khai ứng dụng CNTT không thành công của thời gian qua là các dự án chỉ chú trọng đào tạo các chuyên viên trực tiếp sử dụng PM ứng dụng mà chưa dự án nào quan tâm đến thành phần quan trọng là lãnh đạo các cơ quan, nhân tố quyết định chính đến sự thành công của các dự án.

    Đào tạo kiến thức về ứng dụng CNTT cho các cấp lãnh đạo chỉ có thể thực hiện một cách bài bản, hệ thống khi kết hợp với đào tạo về QLNN, kiến thức này phải được coi như một trong những môn học chính về quản lý hành chính. Có như vậy trong thời gian tới chúng ta mới có được đội ngũ lãnh đạo có khả năng vận hành bộ máy quản lý bằng những công cụ hiện đại.

    Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT không thể ngồi chờ đội ngũ quản lý được đào tạo ở tương lai, bởi để đưa một môn học mới vào chương trình cần một thời gian không ít, trong khi thời gian triển khai ứng dụng CNTT giai đoạn 2008 - 2010 không còn nhiều. Vì vậy, bộ Thông Tin và Truyền Thông (TTTT) cũng như sở BCVT các tỉnh thành cần có giải pháp và biện pháp để bổ túc kiến thức về quản lý và triển khai ứng dụng CNTT cho lãnh đạo các cấp.

    Mục tiêu, đối tượng, lộ trình

    Trong giai đoạn những năm 90, mục tiêu của ngành CNTT là xóa mù tin học, phổ cập kiến thức CNTT trình độ A cho toàn xã hội, đặc biệt là nhân sự của bộ máy HCNN. Trong những năm 2000, chưa có mục tiêu mang tính nâng cấp cho bộ máy hành chính về kiến thức ứng dụng CNTT nên việc triển khai các dự án CNTT gặp rất nhiều khó khăn.

    Đối tượng của bất cứ HTTT quản lý nào cũng gồm 2 thành phần chính là thành phần sinh ra thông tin và thành phần khai thác thông tin. Thành phần sinh ra thông tin là những người sử dụng các công cụ của HTTT gồm phần cứng, PM để tạo ra các dữ liệu (thông tin), phục vụ thành phần khai thác thông tin.

    Trong bộ máy QLNN, thành phần chính sinh ra thông tin là đội ngũ chuyên viên các phòng/ban, sử dụng các PM phục vụ xử lý chuyên ngành; đồng thời họ tích lũy thông tin cho hệ thống. Thành phần khai thác thông tin chính là lãnh đạo bộ máy quản lý trực thuộc. Đối với xã hội, thành phần sinh ra thông tin dịch vụ công là các cơ quan QLNN, thành phần khai thác thông tin là người dân, DN.

       

     

    Ứng dụng CNTT phải trở thành một trong các tiêu chí đánh giá hàng năm của các đơn vị, cá nhân.

    Từ năm 2000 đến nay, NN đã chú ý đến việc cung cấp thông tin và dịch vụ công cho người dân, DN thông qua website của từng đơn vị. Tuy nhiên đối tượng sinh ra thông tin không được xác định rõ ràng và quan tâm đúng mức. Từ đó dẫn đến mô hình tổ chức và biện pháp thực hiện cung cấp thông tin cho người dân và cộng đồng không mang tính hệ thống, liên thông và tự động, không được kế thừa thông tin từ các ứng dụng quản lý nên phần lớn thông tin không được cập nhật. Sau nhiều năm thực hiện, dịch vụ công thông qua website chủ yếu vẫn là quy trình thủ tục hành chính và thành phần hồ sơ, riêng thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai tra cứu thông tin về tình trạng xử lý hồ sơ bằng nhiều hình thức. Không phủ nhận hiệu quả ban đầu của việc giải quyết thủ tục hành chính qua website, song nhu cầu của người dân và DN ngày một lớn và đa dạng, trong khi nội dung cung cấp gần như không thay đổi. Hiện chưa có tỉnh thành nào xác định được nội dung và lộ trình cung cấp thông tin thực sự cần thiết cho người dân và DN.

    Theo chúng tôi, bộ TTTT cần đưa ra mục tiêu tổng thể về ứng dụng CNTT trong 5-10 năm, trên cơ sở đó các tỉnh thành cần xác định mục tiêu theo lộ trình 2 năm, thậm chí từng năm phù hợp với đặc thù của từng địa phương. Lộ trình ngắn và mục tiêu cụ thể sẽ dễ đánh giá và điều chỉnh để đạt hiệu quả thực sự.

    Ứng dụng CNTT trong QLNN có thể được chia thành 2 phần một cách tương đối. Phần ứng dụng để quản lý vận hành của bộ máy, như quản lý hồ sơ công việc hay quản lý luân chuyển và điều hành xử lý hồ sơ. Phần thứ 2 là các ứng dụng hỗ trợ xử lý nghiệp vụ. Hai thành phần này có thể hoạt động độc lập hoặc phối hợp với nhau tùy năng lực tiếp thụ và nhu cầu của từng cơ quan QLNN. Những cơ quan năng lực CNTT chưa mạnh nên triển khai theo từng bước. Bước đầu chỉ triển khai quản lý hoạt động của bộ máy thông qua PM luân chuyển và điều hành xử lý hồ sơ (với các đơn vị có nhiều quy trình giải quyết hồ sơ liên quan đến nhiều bộ phận như quận/huyện và một số sở ngành), hoặc quản lý hồ sơ công việc đối với các đơn vị khác. Ứng dụng này liên quan đến từng người trong bộ máy, tạo cho họ bước đầu làm quen với ứng dụng CNTT, với mô hình làm việc qua mạng. Các đơn vị như TP.HCM có thể triển khai song song cả 2 phần. Chỉ khi 1 trong 2 thành phần hoặc cả 2 thành phần hoạt động có hiệu quả, mới xác định được giải pháp chủ động cung cấp thông tin cho đối tượng khai thác, thông tin mới được cập nhật thường xuyên, tránh được tình trạng sinh ra bộ phận thu thập và nhập thông tin.

    Cơ chế phối hợp

    Mô hình tổ chức và bộ máy quản lý hiện nay cho thấy việc ứng dụng CNTT chưa phải là nhu cầu và thành phần không thể thiếu. Các tổ CNTT (thậm chí các trung tâm tin học) của phần lớn các cơ quan QLNN chỉ có nhiệm vụ chủ yếu là bảo trì phần cứng, hệ thống mạng. Nhiều nơi bộ phận tổng hợp thông tin của lãnh đạo kiêm nhiệm về CNTT.

    Gắn kết giữa cơ quan quản lý lĩnh vực CNTT với các cơ quan QLNN các cấp là một việc rất quan trọng để các dự án đầu tư về CNTT mang tính hệ thống và hiệu quả cao. Trong những năm gần đây, việc đầu tư CNTT đã thông qua đầu mối là sở BCVT các tỉnh, thành. Tuy nhiên, theo nhận xét tương đối chủ quan của người viết, mối quan hệ này chỉ được thiết lập cho việc phê duyệt dự án, nhất là các dự án đầu tư phần cứng, chưa có cơ chế phối hợp vận hành và triển khai dự án ứng dụng CNTT.

    Đơn vị QLNN về CNTT là đầu mối về QL và phê duyệt dự án CNTT, phân bổ ngân sách đầu tư cho CNTT, thẩm định nội dung, giải pháp và công nghệ thực hiện, đặc biệt là xác định mối quan hệ và tính kế thừa của các hệ thống nhằm tránh đầu tư trùng lắp và thiếu liên thông, kế thừa giữa các hệ thống. Để làm được điều này, cơ quan QL CNTT cần có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành. Ví dụ muốn xây dựng cơ sở dữ liệu của một tỉnh/thành, phải xác định được thành phần tổng thể của hệ thống, xác định đối tượng đầu vào của hệ thống và đối tượng khai thác hệ thống, từ đó mới xác định nhiệm vụ, lộ trình và nội dung đầu tư của từng đơn vị sở/ngành, quận/huyện. Tuy nhiên, hiện nay sở BCVT các tỉnh, thành mới có quyền quản lý về CNTT, chưa có quyền điều phối và chỉ đạo các đơn vị triển khai ứng dụng CNTT, vì vậy việc triển khai ứng dụng CNTT tùy thuộc vào nhận thức và mức độ hăng hái của lãnh đạo các đơn vị.

    Tại các ban chỉ đạo ứng dụng CNTT ở các tỉnh/thành, đứng đầu thường là phó chủ tịch tỉnh/thành, thành viên gồm giám đốc sở BCVT và một số giám đốc sở, ngành. Cho đến thời điểm này, hoạt động của các ban chỉ đạo CNTT tương đối mờ nhạt do các thành viên hoạt động “tay trái”. Để ban chỉ đạo CNTT mới hoạt động hiệu quả, thành phần ổn định nên gồm phó chủ tịch tỉnh và giám đốc sở BCVT, còn các thành viên khác nên động, triển khai đến đơn vị nào thì lãnh đạo đơn vị đó sẽ là thành phần của ban chỉ đạo CNTT.

    Giám sát và đánh giá

    Một bộ máy hoạt động mà không có cơ chế giám sát thì hiệu quả thường không được duy trì và phát huy, đặc biệt đối với ứng dụng CNTT. Nhiều mô hình ứng dụng vài năm trước được cho là điển hình toàn quốc, đến nay gần như chìm hẳn hoặc bắt đầu lại từ vạch xuất phát. Đối với nhiều đơn vị, ứng dụng CNTT như là “ôm rơm nặng bụng”. Họ chỉ mặn mà với các dự án CNvTT khi không đủ ngân sách để đầu tư thiết bị phần cứng. Còn nói đến triển khai PM ứng dụng và các cơ sở dữ liệu thì vừa ngại (vì không biết phải làm gì, bắt đầu tư đâu), vừa sợ (vì thêm việc, thêm trách nhiệm).

    Việc Chính Phủ quyết tâm triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính dường như mới chỉ là quyết tâm của Chính Phủ, bộ BCVT và các sở BCVT. Biến quyết tâm đó thành ý thức và nhiệm vụ của mỗi cơ quan QLNN dường như còn là chuyện xa vời trong khi thời gian từ nay đến 2010 rất ngắn cho những việc làm lớn. Do đó, ngay từ bây giờ phải xây dựng được cơ chế giám sát mang tính mệnh lệnh hành chính đối với việc triển khai ứng dụng CNTT.

     

    Bộ Thông Tin Truyền Thông
    ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

    Ngày 20/3/2008, bộ TTTT tổ chức hội nghị tham vấn về “phát triển chính phủ điện tử ở VN đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”. Tham gia hội nghị có đại diện của các tập đoàn, công ty đa quốc gia nước ngoài như Microsoft, Intel, Oracle, Cisco Systems, IBM, Trigyn Technologies, Sun Microsystems, Institute for Information Industry, NEC, KT, Samsung... và đại diện một số tổ chức quốc tế tại VN như UNDP, World Bank, BSA, US TDA... Nội dung hội nghị hướng tới những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cần làm ngay nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, phát triển CPĐT ở VN trong giai đoạn tới.
    Trước đó, ngày 17/3/2008, bộ TTTT đã họp công bố chương trình triển khai thỏa thuận đối tác chiến lược Nhà Nước – DN với Microsoft. Thỏa thuận được hai bên ký vào ngày 21/5/2007 dưới sự chứng kiến của Thủ Tướng Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng và ông Steve Ballmer, tổng giám đốc điều hành tập đoàn Microsoft. Chương trình được thực hiện trong 3 năm. Cụ thể, Microsoft sẽ hỗ trợ VN xây dựng hạ tầng chính phủ điện tử; 200 nhân viên được lựa chọn của Chính Phủ VN thuộc 22 bộ ngành và trên 64 tỉnh thành trong cả nước được đào tạo kỹ năng CNTT thông qua chương trình Microsoft Certified Systems Engineer (MCSE); Đào tạo, cấp học bổng cho 300 sinh viên được lựa chọn từ các trường ĐH trên cả nước.

     

    Phạm Thị Phương Lan

    ID: B0804_42