• Thứ Tư, 23/04/2008 07:22 (GMT+7)

    Cuộc sống không chờ

    Ứng dụng CNTT trong xã hội đã có những bước tiến mạnh mẽ trong khi các cơ quan nhà nước còn lừng khừng.

    Ứng dụng CNTT trong xã hội đã có những bước tiến mạnh mẽ trong khi các cơ quan nhà nước còn lừng khừng.

    Ngày 5/3/2008, bộ Thông Tin và Truyền Thông (TTTT) công bố dự thảo chương trình ứng dụng CNTT 2008-2010 và tham vấn ý kiến của các chuyên gia về việc “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam”. Nhiều chuyên gia, “bô lão” trong làng CNTT đã tham gia góp ý.

    Thiếu đánh giá và dự báo

    GS, TS Bạch Hưng Khang, nguyên viện trưởng viện CNTT nhận xét, hình như việc xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT) chỉ mới có quyết tâm chứ chưa dựa trên những đánh giá thực tế. Nếu đánh giá được sẽ ít vấp váp hơn. Theo GS Khang, trong thời gian vừa qua, việc quản lý các dự án quá dễ dãi, không có nghiệm thu. Cả hai giai đoạn ứng dụng trước (1996-2000 và 2000-2005) đều không có đánh giá một cách nghiêm chỉnh. Ông Khang đề nghị phải có quy chế kết thúc chương trình/dự án.

    Ông Đỗ Xuân Thọ, chủ tịch hội Tin Học Việt Nam cũng cho rằng một số mục tiêu bộ TTTT vạch ra chưa dựa trên cơ sở nắm vững thực trạng ứng dụng CNTT của từng ngành. Chẳng hạn, mục tiêu 100% cán bộ, công chức (CBCC) có địa chỉ e-mail và trao đổi công việc qua email, theo ông Thọ là khó thực hiện. Bộ TTTT cần điều tra hiện nay bao nhiêu phần trăm CBCC có máy tính và để đạt mục tiêu đó thì cần bao nhiêu máy tính nữa. Con số có thể lên đến hàng triệu chiếc. Hiện nay, bộ Công An chưa đủ để trang bị 2 cán bộ/máy. Mục tiêu điều hành công việc trên mạng vào năm 2010 cũng không đơn giản. Đầu tư cho việc đó không nhỏ, chưa kể vấn đề an toàn, bảo mật thông tin. Chỉ riêng đầu tư để tất cả nhân viên nhà nước được cấp e-mail và được bảo mật thì kinh phí đã rất lớn.

    Thực trạng ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước (CQNN) là chậm so với xã hội, không những thế , “tinh thần ứng dụng vẫn e dè”, TS Mai Liêm Trực, nguyên thứ trưởng thường trực bộ BCVT cũ nhận xét. “Cần phải mạnh mẽ lên vì thực tế cuộc sống phát triển rất mạnh mẽ, và việc của CQNN là thúc đẩy phát triển nhanh hơn nữa” – ông Trực nói. Một trong những phương tiện có thể sử dụng ngay và rất hiệu quả là e-mail. Nên tăng cường chỉ đạo bằng e-mail, vì điện thoại thì “lời nói gió bay”, người nghe có thể hiểu nhầm, còn e-mail thì rõ ràng, có chứng cứ khi cần dò lại.

    Ngoài việc đánh giá thực trạng, việc dự báo tình hình khi ra chính sách cũng rất quan trọng. Nhưng theo TS Nguyễn Chí Công (từng làm tổ trưởng tổ chuyên môn ĐA 112), công tác này còn rất yếu kém. Khi nước ngoài đầu tư vào mới thấy thiếu đủ thứ (nhân lực, hạ tầng...) Do đó cần dự báo cả ngắn hạn, dài hạn khi hoạch định chính sách.

    Có Thủ Tướng mới êm

    Hầu hết các chuyên gia trong ngành đều nhấn mạnh vào một điểm: Muốn thay đổi thật sự thì cấp cao nhất phải ra tay.

    Theo GS Chu Hảo, nguyên thứ trưởng bộ KHCN, chính vì không có thủ tướng (TT) tham gia nên Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT (BCĐ 58) không có cách nào chỉ đạo ban điều hành Đề Án (ĐA) 112, “mời đến họp mà họ không đến thì cũng chịu”! Ông đề nghị “xúm vào thuyết phục Thủ Tướng nhận vai trò này”. Khi người đứng đầu nhà nước quan tâm thì công việc sẽ êm, “không phải kết hợp cải cách hành chính và CNTT theo kiểu kêu gọi nữa”.

    TS. Mai Liêm Trực nhấn mạnh: “Có TT đứng đầu không phải để chi tiền, mà đó chính là ý chí, là quyết tâm chính trị”. Ông Trực cũng bày tỏ lo lắng về mô hình điều hành thực hiện chương trình. “BCĐ 58 không trực tiếp điều hành, vậy ai trực tiếp điều hành?” – ông hỏi và tự trả lời: “Các nước thường có 3 cơ quan, là bộ phụ trách CNTT, bộ nội vụ và bộ tài chính. Ở Việt Nam cần thêm hai cơ quan, là bộ Kế Hoạch và Đầu Tư để cân đối ngân sách, và Văn Phòng CP. Trực tiếp điều hành tổ chức này chỉ cần bộ trưởng TTTT, và thứ trưởng các bộ khác”. Ông Trực nhận xét, đông quá thì dễ quên (trách nhiệm), như thời ĐA 112, mà không có thì không làm được. Nếu chỉ có bộ TTTT thì sẽ “chới với”.

    Muốn thành công, theo TS Nguyễn Chí Công, phải chỉ rõ ích lợi và phát động tất cả các giới, vì chương trình này chạm tới tất cả mọi người. Lãnh đạo cao nhất vào cuộc là cú huých đầu tiên, không có không làm được. Mặt khác, cần tuyên truyền thật mạnh để nhiều người hiểu. Rút kinh nghiệm “ĐA 112 lớn như thế nhưng không ai biết nó làm cái gì” – ông Công nói. Ông cũng cho rằng phải xác định rõ ai làm cái gì, chịu trách nhiệm về điều gì, để khi có vấn đề xảy ra thì có người chịu trách nhiệm.

    Ngoài ra, lãnh đạo các cấp dưới cũng là chuyện đáng bàn. Ông Đỗ Xuân Thọ phàn nàn quá nhiều người không được đào tạo về ứng dụng CNTT. Trước đây có dự án đào tạo cấp phó phòng và viện phó trở lên, đến nay thực hiện vẫn chưa đến nơi đến chốn.

    Tuy nhiên, sự quan tâm của lãnh đạo cũng chỉ là một phần. Điều cơ bản nhất là điều hành của CP phải đồng bộ, có quy định và chế tài bắt buộc sử dụng CNTT. Đó là quan điểm của GS Đặng Hữu, nguyên trưởng ban chỉ đạo CNTT trong các cơ quan Đảng.

    Dân mới là đối tượng chính

    TS Mai Liêm Trực cho rằng, có sự nhầm lẫn trong hệ thống tư duy của người làm CPĐT trong thời gian qua, do chưa phân biệt rõ mạng dịch vụ công (public network) và mạng nội bộ (private network). Dịch vụ công thì không phải bộ làm, CP làm, mà chủ yếu các sở làm, vì đó mới là đầu mối tiếp xúc trực tiếp với dân. Do đó, có thể nói mạng CPĐT chủ yếu là bên dưới làm. Dân cần là cần chính quyền cơ sở, cần dịch vụ công, còn mạng điều hành công việc thì dân không cần biết. Trong các cơ quan chính quyền, tin học hóa những nghiệp vụ trực tiếp phục vụ dân nên đặt làm trọng tâm hơn là điều hành công việc nội bộ.

    Với năng lực công nghệ hiện nay, ông Nguyễn Chí Công cho rằng chính quyền hoàn toàn có thể cung cấp dịch vụ công cho DN (G2B), kể cả cho người dân (G2C). Đối với các địa phương có đủ ngân sách, việc huy động vốn còn nhanh hơn qua bộ Tài Chính. Thực ra không phải NN “gánh” toàn bộ chuyện này, mà chỉ cần làm những gì tư nhân và DN không làm được.

    Không nên làm mô hình điểm

    Một điểm trong dự thảo khiến nhiều chuyên gia chưa đồng tình là việc tổ chức các mô hình điểm về ứng dụng CNTT. Các ông Đặng Hữu, Mai Liêm Trực cho rằng làm điểm ở nơi nào thì thường dồn tiền cho nơi đó, không có tác dụng và khi hết thời gian làm điểm thì lại trở về nguyên trạng. Vả lại, “cuộc sống có dừng lại đâu mà thí điểm” – ông Trực nói. GS Bạch Hưng Khang cũng góp ý “không nên làm điểm về tiền, mà chỉ nên thí điểm bằng cách hướng dẫn, uốn nắn, tập trung ý chí, trí tuệ vào đó”.

    Tại hội nghị, ông Lê Doãn Hợp, bộ trưởng TTTT cho biết sẽ tiếp thu ý kiến các chuyên gia, sẽ chỉ đạo triển khai ứng dụng một cách quyết liệt và định kỳ công bố mức độ ứng dụng của các cơ quan, đơn vị... Bộ cũng sẽ kiến nghị và thuyết phục về vai trò đứng đầu của TT trong việc thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các CQNN.

     

    Mục tiêu đến 2010
    - Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của CQNN: 50% thông tin lưu chuyển trên mạng.
    - Phục vụ người dân, DN: 100% CQ có cổng thông tin điện tử, 30% DN báo cáo qua mạng, một số dịch vụ công trực tuyến
    - Xây dựng hạ tầng kỹ thuật và các chuẩn: Mạng TSL (mạng chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà Nước) tốc độ cao, đa dịch vụ từ TW đến quận/huyện
    (Theo dự thảo chương trình ứng dụng CNTT trong CQNN giai đoạn 2008-2010)

     

     

    “Đồng bộ về CSDL quốc gia ở VN cực khó. Chính Phủ đầu tư cho việc làm dữ liệu, nhưng nhiều CQNN khi có CSDL lại nghĩ đến chuyện bán, ai cần thì yêu cầu phải mua. Do vậy, việc hợp tác để đồng bộ CSDL phải có luật, có quy định chứ không phải là dựa vào lòng tốt”.
    GS Chu Hảo

     

     

     

    “Có CNTT vào, cuộc sống dân chủ, “sạch sẽ” hơn, nhưng việc đưa CNTT vào vẫn còn dè dặt. Phải chăng có những cán bộ lừng khừng để cản trở CNTT vào?”
    TS Mai Liêm Trực

     

     

     

    “Lộ trình CPĐT của Singapore và nhiều nước khác bắt đầu từ cơ sở dữ liệu (CSDL). Trong khi đó, lộ trình của ĐA 112 bắt đầu từ trung tâm tích hợp dữ liệu”.
    Ông Đỗ Xuân Thọ, chủ tịch hội Tin Học Việt Nam

     

     

    Nguyễn Diêm

    ID: B0804_46