• Thứ Tư, 14/01/2009 10:42 (GMT+7)

    Kế hoạch Chính Phủ điện tử: “Chưa gắn kết” và “thiếu tham vọng”

    Có 2 cụm từ gây chú ý tại “Hội thảo quốc gia về chính phủ điện tử” diễn ra ngày 16-17/12/2008 ở Hà Nội. “Chưa gắn kết” chỉ mối quan hệ lỏng lẻo giữa cơ quan chỉ đạo ứng dụng CNTT và cơ quan chỉ đạo cải cách hành chính. “Thiếu tham vọng” là nhận xét về mục tiêu có phần dè dặt của kế hoạch Chính Phủ Điện Tử (CPĐT) 2009-2010.

    Chỉ số tăng, không nên vội mừng

    Tại hội thảo nói trên, bộ trưởng bộ Thông Tin và Truyền Thông (TTTT) Lê Doãn Hợp có nhắc đến vị trí của Việt Nam (VN) trong xếp hạng chỉ số sẵn sàng chính phủ điện tử (CPĐT) của Liên Hiệp Quốc. Theo đó, năm 2008, VN đã tăng 14 bậc so với năm 2005 (từ 105 lên 91/182), trong khi hầu hết các nước trong khu vực đều giảm. Tuy nhiên, ông Hợp cũng cho rằng CPĐT ở VN vẫn có khoảng cách xa so với nhiều nước và chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân.

    Theo đánh giá của ông Nguyễn Thế Dũng, cán bộ cao cấp của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), điều phối chính của dự án CNTT-TT do World Bank tài trợ tại VN, chỉ số sẵn sàng CPĐT tuy tăng, nhưng đó mới chỉ là sự sẵn sàng. Kinh tế xã hội thu được những lợi ích như thế nào từ điều đó thì còn chưa thấy rõ.

    Ngay trong sự tăng hạng chỉ số CPĐT, cũng cần có những phân tích cụ thể để hiểu rõ hơn. Ông Dũng đưa ra một biểu đồ gồm 3 trục, biểu diễn 3 chỉ số thành phần của chỉ số sẵn sàng CPĐT: nguồn nhân lực, website, cơ sở hạ tầng (CSHT) CNTT-TT. Nhìn vào biểu đồ này, có thể thấy chỉ số nhân lực của VN tuy có cao hơn mức trung bình của thế giới một chút, nhưng lại thụt lùi so với chính VN năm 2005. Chỉ số CSHT nhỉnh hơn so với năm 2005 nhưng còn kém xa so với mức trung bình của thế giới. Sự tăng hạng của VN dựa chủ yếu vào sự nhảy vọt mạnh mẽ (tăng 50 bậc) của chỉ số website. Mặc dù vậy, điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ công (Access to Services) còn đứng sau khá xa nhiều nước trong khu vực như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan.

    Bao giờ “hai chân” bước đều?

    Cản trở chính đối với phát triển CPĐT ở VN, theo ông Dũng, không phải là kỹ thuật mà là thể chế. Một số yếu tố đáng kể là vai trò đầu tàu, chỉ đạo về CPĐT và CNTT-TT còn hạn chế, thiếu truyền bá công nghệ và năng lực CNTT-TT cho khu vực tư nhân, DN vừa và nhỏ, khung pháp lý cho các hoạt động CNTT-TT còn chưa hoàn chỉnh... Những trở ngại này đang chậm được giải quyết.

     
    Hiện nay có 54,7% địa phương (tính trên số 64 tỉnh, thành trực thuộc trung ương) đã triển khai dịch vụ hành chính công trực tuyến ở mức một, 28,1% địa phương đã triển khai dịch vụ hành chính công trực tuyến ở mức hai và 4,7% địa phương đã triển khai dịch vụ hành chính công trực tuyến ở mức ba.
    Theo kết quả khảo sát của bộ TTTT, công bố tháng 6/2008, về mức độ truy nhập và cung cấp dịch vụ hành chính công của các trang thông tin điện tử và các bộ, địa phương.

    Để vượt qua các rào cản này, đại diện World Bank đề xuất CPĐT của VN nên áp dụng Kiến Trúc doanh nghiệp (Enterprise Architecture – một phương pháp tổ chức quy trình công việc, các nguồn lực và hạ tầng CNTT theo hướng tích hợp và tiêu chuẩn hóa, thường được dùng trong các cơ quan/tổ chức lớn trên thế giới), cả theo chiều từ trên xuống lẫn từ dưới lên. Chiến lược CPĐT phải hướng nhiều hơn đến con người, lấy người dân làm trung tâm.

    Ông Dũng cũng đề nghị tăng cường vai trò đầu tàu chỉ đạo CPĐT và CNTT-TT quốc gia, đẩy mạnh sự hợp tác giữa khu vực công và tư, có các dự án phát triển CNTT của VN, các tỉnh/thành, đặc biệt là việc phát triển CPĐT phải “đi trên 2 chân”, cả cải cách hành chính (CCHC) và ứng dụng CNTT. Hiện nay 2 yếu tố này chưa đi đôi với nhau.

    TS Đinh Duy Hòa, vụ trưởng vụ CCHC, bộ Nội Vụ cũng nhận xét: “Ban Chỉ Đạo CCHC và ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT phối hợp chưa tốt, mảng bên nào bên ấy làm, chưa rõ những điểm gắn kết”. Theo ông Hòa, sự đồng bộ giữa ứng dụng CNTT và CCHC phải được bảo đảm trong công tác chỉ đạo từ CP tới các bộ và chính quyền địa phương các cấp. Kế hoạch ứng dụng CNTT của CP phải đồng bộ với kế hoạch CCHC của CP và tương tự ở cấp bộ, tỉnh.

    Thực ra, những đề xuất trên không phải là mới. Vấn đề là làm thế nào để có sự đồng bộ đó? Làm thế nào để có cơ chế phối hợp cụ thể và hiệu quả giữa CCHC và xây dựng CPĐT? Những câu hỏi này chưa được trả lời thỏa đáng tại hội thảo. Trong khi đó, vấn đề gắn kết việc xây dựng CPĐT với CCHC là chủ đề chính của hội thảo này.

    Những mục tiêu ít “tham vọng”


    “Hội thảo quốc gia về CPĐT” năm 2008 do ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT và tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG Việt Nam phối hợp tổ chức, có chủ đề “Xây dựng CPĐT gắn liền với cải cách thủ tục hành chính nhà nước”. Trước đây, hội thảo hằng năm này được biết đến với tên gọi “Hội thảo chuyên đề về CPĐT”, đã tổ chức lần thứ 5 vào năm 2007. Hội thảo năm 2008 có sự xuất hiện của một số đại diện cơ quan chủ trì CCHC, đồng thời thu hút nhiều lãnh đạo tỉnh (chủ yếu là cấp phó) tham dự, cho thấy CPĐT đang được quan tâm sâu rộng hơn. Tuy nhiên, Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, trưởng ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT đã không tới dự hội thảo như dự kiến do bận việc đột xuất.
     

    Ông Nguyễn Thành Phúc, viện trưởng viện Chiến Lược TTTT cho biết đã soạn thảo xong kế hoạch ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước (CQNN) giai đoạn 2009-2010, đang trình CP thông qua. Theo kế hoạch này, đến năm 2010, các CQNN sẽ có 60% thông tin điều hành qua mạng; 80% cán bộ cấp trung ương, 60% cấp tỉnh và 30% cấp huyện sử dụng e-mail trong công việc; 80% cổng thông tin điện tử cung cấp dịch vụ ở mức 2 (theo mô hình 4 mức độ của bộ TTTT). Trong năm 2009, bộ sẽ xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2011-2015.

    Theo ông Đinh Duy Hoà, các mục tiêu nói trên có vẻ thấp hơn so với khả năng thực hiện. Chẳng hạn yêu cầu đến năm 2010 có 80% cổng thông tin cung cấp dịch vụ công mức độ 2 là “khá khiêm tốn”. Các dịch vụ công ở mức 2 không phải là khó thực hiện và hiện tại đã có nhiều bộ/ngành, địa phương cung cấp dịch vụ trực tuyến ở mức độ này. Mặt khác, CNTT VN đang được “ưu ái” so với nhiều nước, mà một trong những ví dụ là VN có cục CNTT trong một số bộ.

    Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Thế Dũng (World Bank) cho rằng mục tiêu phải “hơi tham vọng”, vì các mục tiêu quá thấp không tạo được động cơ, áp lực đối với người thực hiện.

    Nguyễn Diêm

    ID: B0901_36