• Thứ Hai, 16/02/2009 08:20 (GMT+7)

    Công nghệ phần mềm & nội dung số: Đích đến 1 tỷ USD...

    Phát triển công nghiệp phần mềm (PM) và nội dung số (NDS) được bộ TTTT xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2009. Trước đó, việc thành lập viện CNpPM & NDS đã được chuẩn bị và chính thức ra mắt vào tháng 10/2008. Để hiện thực hóa các chủ trương của bộ TTTT, viện CNpPM & NDS có kế hoạch hành động ra sao, tạp chí TGVT – PC World Vietnam sê-ri B đã phỏng vấn ông Hoàng Lê Minh, viện trưởng.

    Là cơ quan mới tham mưu cho bộ trưởng bộ TTTT về CNpPM & NDS, ngay khi ra mắt, Viện đã công bố "chiến lược, chiến thuật" và cả những việc sẽ làm ngay. Vậy trong năm 2009, Viện tập trung vào công việc gì? Vai trò của Viện trong hỗ trợ cơ quan/tổ chức/doanh nghiệp (CQ/TC/DN) cung cấp và ứng dụng các sản phẩm CNTT-TT?

    Theo các chức năng, nhiệm vụ được bộ trưởng bộ TTTT giao trong quyết định số 30/2008/QĐ-BTTTT ngày 6/5/2008, viện CNpPM & NDS là cơ quan tham mưu giúp Bộ trong nghiên cứu, xây dựng và triển khai chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển CNpPM & NDS; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, nghiên cứu - phát triển và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ PM, nội dung thông tin số. Đây là những nhiệm vụ lớn, đòi hỏi phải tập hợp được các tiềm lực, có được sự đầu tư mạnh từ phía Nhà Nước (NN) cũng như sự hợp tác chặt chẽ với các CQ/TC/DN trong ngành mà trong đó, viện CNpPM & NDS cần phải làm tốt vai trò tạo môi trường liên kết NN, DN và thị trường CNTT.

    Viện không đơn thuần là một đơn vị tham mưu hoạch định chiến lược, chính sách hoặc chỉ làm công tác nghiên cứu khoa học – phát triển công nghệ mà thực sự cần trở thành một tổ chức có khả năng thúc đẩy sự phát triển của thị trường sản phẩm và dịch vụ (SP-DV) PM, NDS. Để làm việc này, chỉ tham mưu ban hành chính sách hay làm nghiên cứu phát triển là chưa đủ, mà phải xắn tay cùng DN (người cung cấp SP-DV) và khách hàng ứng dụng (ƯD) CNTT, đặc biệt là trong CQ/TC/DN có nhu cầu sử dụng các DV CNTT, khách hàng gia công PM tháo gỡ các khó khăn, cản trở để 2 bên cung và cầu gặp nhau.

    Ông Hoàng Lê Minh

    Khó khăn, cản trở rất nhiều, ai cũng nhìn thấy: sự đổ vỡ của đề án 112, việc chậm giải ngân theo các quyết định 43, 51, 56 của Chính Phủ, sự thiếu hụt nguồn nhân lực PM, sự non kém về trình độ công nghệ, quản lý, thiếu sản phẩm và DV PM, phần cứng nội địa, khó khăn cản trở khi mua sắm, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài với chi phí cao...

    Năm 2009 sẽ là năm kinh tế phát triển khó khăn nhưng Chính Phủ vẫn ưu tiên, duy trì đầu tư ƯD CNTT. Theo các chuyên gia, việc cắt giảm chi tiêu ƯD CNTT tại CQ/TC/DN trong năm 2009 chủ yếu sẽ rơi vào đầu tư phần cứng. Đầu tư phần cứng còn gặp khó khăn hơn so với năm 2008 khi thuế VAT sẽ là 10% thay vì 5%. Như vậy, PM có cơ hội để phát triển không? Định hướng phát triển PM và ƯD của Viện nói chung?

    Theo tôi, NN và DN thiếu hụt ngân sách chi cho ƯD CNTT sẽ tác động nhiều đến thị trường CNTT, nhưng cũng sẽ là cơ hội cho các DN làm ăn có hiệu quả, quản lý giỏi, biết nhanh chóng ƯD các công nghệ mới (trong lĩnh vực PM & NDS) để tạo ra hiệu quả kinh tế cao khi chuyển giao SP và giải pháp cho khách hàng. Chúng tôi đã xác định một số hướng công tác sắp tới của Viện là:

    Hỗ trợ các CQ NN đánh giá chất lượng, nghiệm thu PM (trong các dự án phát triển và mua sắm) để đưa vào sử dụng một cách hiệu quả hơn. Trong năm 2009, Viện cũng sẽ được Bộ đầu tư để triển khai một số hoạt động và trang thiết bị các phòng thí nghiệm kiểm định PM theo hướng này (xem thêm bài "Thí nghiệm phần mềm trước khi mua, bán", mục Nguồn Lực trong số này)

    1. Đề xuất cơ chế đánh giá và khuyến cáo sử dụng các "DV thuê ngoài các giải pháp ƯD CNTT trọn gói, bao gồm cả phần cứng và PM" trên cơ sở so sánh chi phí đầu tư, bảo trì, đào tạo và khai thác hệ thống. Để làm việc này chúng tôi cần triển khai một số dự án thí điểm, thí dụ dự án "Giám sát trực tuyến các giao dịch có phát sinh thuế GTGT và các hóa đơn, chứng từ kèm theo trong hệ thống bán lẻ thương mại, DV” thay cho phương thức "khoán nộp thuế, hoàn thuế và hậu kiểm" như hiện nay

    Năm 2008, ngành CNpCNTT vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tốt (đạt 20%), trong đó, CNp phần cứng – điện tử – viễn thông đạt 16%; CNpPM đạt 35% và CNpNDS đạt 49%. Tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 4,5 tỷ USD.

    2. Đối với Chính Phủ và các địa phương, nhu cầu sử dụng các DV trao đổi thông tin qua mạng là rất lớn nhưng hiện chưa có giải pháp khả thi nào ngoài việc NN phải tự đầu tư xây dựng hệ thống hoặc thuê từng DV theo vụ việc với chi phí cao. DN vì các mục tiêu kinh doanh ngắn hạn nên chưa sẵn sàng đầu tư xây dựng hệ thống này cho CP theo hình thức BOT; cũng chưa ai tính được chi phí đầu tư bao nhiêu là đủ. Viện sẽ tiến hành nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp để DN có thể tham gia cung cấp DV với chi phí đầu tư hợp lý

    3. Phối hợp cùng với VINASA và các DN PM xây dựng đề án quỹ Hỗ Trợ Phát Triển CNpPM, hỗ trợ đào tạo nhân lực trình độ cao, nhân lực quản lý DN, quản trị chất lượng và dự án PM, tiếp thị quốc gia cho ngành CNpPM và CNpNDS của Việt Nam.

    Đất nước ngày càng tiến gần tới hội nhập hoàn toàn vào WTO nên các chính sách bảo hộ của NN với DN sẽ hết hiệu lực. Trong năm 2009, ngành sản xuất PM & NDS còn được hưởng chính sách hỗ trợ nào của NN không? Nói chung thì, theo ông, các DN PM & NDS nên hành động thế nào trong năm 2009 và những năm tiếp theo?

    NN luôn là khách hàng lớn nhất của ngành CNpPM, nhưng để tiếp cận và thỏa mãn các yêu cầu khắt khe của khách hàng NN, không phải DN nào cũng có khả năng. Theo chúng tôi, các DN cần tăng cường hợp tác để đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT trong các CQ NN, thay vì "mạnh ai nấy làm" dẫn đến kết quả chưa tương xứng với công sức bỏ ra, một số lĩnh vực có quá nhiều nhà cung cấp (thí dụ làm trang web, cổng thông tin, các PM quản lý đơn giản) trong khi để cung cấp giải pháp chuyên sâu hay PM theo hướng DV thì không ai làm (DN vừa và nhỏ không thể vừa phát triển PM, vừa bán hàng và làm DV mà kinh doanh có lãi). Viện chúng tôi mong muốn có đóng góp tích cực vào quá trình tạo ra sự hợp tác đó với cả 2 phía: khách hàng (NN) và các hiệp hội (DN).

    Được biết, Viện đã hợp tác với một số DN nước ngoài để phát triển một số SP. Viện có kế hoạch hợp tác với các DN trong nước như thế nào hay các DN trong nước sẽ có cơ hội hợp tác với Viện ra sao?

    Hiện nay, việc hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu – phát triển của Viện chủ yếu là với các đối tác nước ngoài vì ngành CNpPM và NDS của chúng ta còn rất thiếu các SP và DV mang tính đột phá. Tuy nhiên để triển khai thành mô hình DV, nhất là trong ngành CNp nội dung số thì không thể thiếu các nhà cung cấp DV viễn thông, các DN CNTT trong nước. Chúng tôi hy vọng sẽ tạo được một mô hình hợp tác kinh doanh mà trong đó các DNVVN trong nước không cần phải đầu tư quá nhiều vào khâu bán hàng và DV khách hàng (đối với các DN PM) hoặc nghiên cứu phát triển SP mới (đối với các DN DV, điện tử, viễn thông) mà vẫn có đủ việc làm, xã hội ngày càng có được nhiều SP - DV CNTT có chất lượng tốt với chi phí rẻ.

    Ông có đánh giá gì về sự tăng trưởng của ngành CNpPM và NDS trong vài năm gần đây, cụ thể trong năm 2008 và dự đoán xu hướng trong một vài năm tới? Sự tăng trưởng này có tương tự như với các nước phát triển (được biết các nước phát triển có tỷ lệ tăng trưởng của DV học tập, khám chữa bệnh rất cao trong khi ở Việt Nam lại tăng trưởng mạnh ở thị trường game online). Định hướng của Viện ra sao?

    Một cảm nhận là ngành CNpPM và NDS có rất nhiều triển vọng và thực tế cũng đang phát triển rất nhanh, dù cho có khó khăn kinh tế. Tuy nhiên dễ thấy là CNpPM, nhất là CNp NDS còn đang phát triển khá tự phát, chưa có định hướng mang tính chiến lược cho tương lai. Do đó, tương lai của ngành sẽ như thế nào rất khó dự đoán. Theo tôi, nếu NN cùng DN xác định chiến lược phát triển ngành một cách đúng đắn và thực sự tập trung được các nguồn lực để đi tới định hướng này thì tôi tin VN sẽ nhanh chóng trở thành một cường quốc khu vực về CNTT, giống như Ấn Độ, Trung Quốc và một số quốc gia khác. Đây là một công việc không đơn giản và Viện chúng tôi luôn mong muốn là một phần của chiến lược quốc gia trong phát triển CNpPM và NDS VN.

    Thu Nga - Như Dũng

    ID: B0902_36