• Thứ Hai, 18/05/2009 07:52 (GMT+7)

    Ứng dụng CNTT điều hành ngành y tế : Thêm bột để gột hồ!

    Ngành y tế (YT) đã sớm có những hoạt động triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý điều hành song kết quả đạt được đang còn một khoảng cách so với mong muốn do thiếu khá nhiều điều kiện.

    Chưa kết nối hết 63 tỉnh, thành

    Việc tổ chức hội nghị, họp giao ban trực tuyến... tiết kiệm được rất nhiều chi phí như phiên hội thảo truyền hình “Nguồn nhân lực YT” năm 2008 do thứ trưởng bộ YT Nguyễn Thị Kim Tiến chủ trì với 3 điểm cầu nối là bộ YT, viện Pasteur TP.HCM và bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Huế, mỗi điểm có khoảng 100 đại biểu từ nhiều khu vực khác nhau về dự. Hội thảo này đã tiết kiệm hơn 300 triệu đồng so với nếu phải tổ chức tại Hà Nội. Tuy nhiên, các cuộc họp trực tuyến của Bộ nói riêng và ngành y nói chung chưa được tổ chức thường xuyên do... đường truyền. Tính đến tháng 12/2008, mới có 95,3% văn phòng sở YT có mạng LAN và kết nối Internet tốc độ cao, chỉ 8% trạm YT trên cả nước có máy tính và 0,05% nối mạng Internet. Nhiều cơ sở YT vẫn truy cập Internet quay số (dial-up).

    Hội thảo ứng dụng CNTT cho ngành Y tế tổ chức tại
    Hà nội tháng 2/2009.

    Bà Tiến thừa nhận: Do còn thiếu máy móc, trang thiết bị nên không phải tất cả 63 tỉnh thành đều có khả năng tham gia hội nghị trực tuyến. Ví dụ, Lai Châu muốn tham gia phải về Lào Cai. Vừa rồi, ngành YT dự định triển khai hội thảo nghe nói (audio conference) nhưng nhiều ý kiến cho rằng cách làm này không hiệu quả nên chưa tiến hành. Bác sĩ Nguyễn Công Huấn, giám đốc sở YT Lai Châu đã đề nghị Bộ hỗ trợ mua sắm trang thiết bị và lắp đặt cho các tỉnh khó khăn. Bà Tiến khẳng định: Phải cung cấp máy tính, đường truyền giá rẻ đến tuyến xã thì mới đạt mức ứng dụng toàn diện. Theo bà, phải đầu tư nhiều hơn bởi “có bột mới gột nên hồ”.

    Theo kế hoạch ứng dụng CNTT cho ngành YT 2009 – 2010, năm 2009, ngành YT sẽ hoàn thiện thiết kế tổng thể mạng WAN kết nối cơ quan bộ với các đơn vị trực thuộc, các đơn vị tuyến trung ương và các sở. Các đơn vị này cứ có đủ điều kiện là có thể kết nối vào hệ thống. Đến năm 2010, các cuộc họp giao ban của Bộ, kể cả giao ban mở rộng đều có thể thực hiện trên mạng; 30% hội nghị, hội thảo của Bộ là trực tuyến, 100% văn bản cuộc họp của Bộ được cung cấp dưới dạng điện tử cho đại biểu trước khi họp.

    Bộ YT phối hợp với một số doanh nghiệp lớn như Viettel để triển khai các hội nghị trực tuyến. Hay như VNPT cũng sẽ hỗ trợ ngành YT triển khai ứng dụng CNTT. Ông Bùi Quốc Việt, giám đốc trung tâm Thông Tin và Quan Hệ Công Chúng, người phát ngôn của VNPT cho biết VNPT sẽ giảm cước 50% đối với tất cả những người sử dụng thuộc ngành YT đăng ký sử dụng dịch vụ băng rộng của VNPT...

    KẾ HOẠCH NĂM 2009
    Theo kế hoạch, năm 2009, cổng thông tin điện tử của Bộ sẽ được xây dựng, các dịch vụ hành chính công sẽ được cung cấp ở mức độ 2 trên cổng và trên website của các sở; 20% dịch vụ công tại Bộ và 10% tại các sở ở mức độ 3. Theo đó, Bộ sẽ cung cấp 4 dịch vụ công gồm: Cấp giấy phép đủ điều kiện hành nghề; Cấp chứng chỉ hành nghề; Thành lập công ty dược phẩm; Cấp phát số đăng ký thuốc.
    Tới năm 2010, sẽ có thêm các dịch vụ: Cấp phép nhập khẩu trang thiết bị YT; Cấp phép nhập khẩu hóa chất, vắcxin; Cấp số đăng ký thực phẩm. Các sở YT sẽ cung cấp 3 dịch vụ công gồm: Cấp giấy phép đủ điều kiện hành nghề; Cấp chứng chỉ hành nghề; Thành lập công ty kinh doanh thuốc, thiết bị YT. Năm 2009, văn phòng Bộ sẽ có 75% dịch vụ công ở mức 3, 25% dịch vụ công ở mức 2. Sang năm 2010 thì 100% dịch vụ công ở mức 3; và tới năm 2015 sẽ có 100% dịch vụ công đạt mức 4.

    Hành lang pháp lý chưa đầy đủ

    Các dịch vụ công của ngành YT bao gồm khám chữa bệnh, YT dự phòng, cung cấp thuốc – mỹ phẩm - trang thiết bị YT, đào tạo, nghiên cứu khoa học... Hiện ngành chỉ cung cấp một số thông tin như các văn bản quản lý nhà nước, một số mẫu biểu hay thông báo về quy trình xin phép, cấp phép đăng ký thuốc, trang thiết bị YT, chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, các đề tài, đề án nghiên cứu khoa học kỹ thuật y dược...

    Việc đăng ký cấp phép trên mạng đối với nhập khẩu thuốc, trang thiết bị YT hay xác nhận vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được triển khai. Bà Tiến cho biết ngành đã bắt đầu cấp phép qua mạng nhưng dịch vụ công này mới chỉ đạt mức 1 vì hành lang pháp lý chưa hoàn thiện. Ông Nguyễn Đức Bôn, cục Quản Lý Dược, bộ YT, cho biết cụ thể hơn: “Thủ tục với một số công việc cần con dấu, chữ ký... không thể triển khai cấp phép trực tuyến nên chỉ có thể cung cấp ở mức độ 1 hoặc 2”.

    CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ỨNG DỤNG CNTT CỦA NGÀNH YT
    • Dự án xây dựng dịch vụ tư vấn YT, khám chữa bệnh từ xa (đã được chọn là dự án trọng điểm quốc gia)
    • Dự án hệ thống thông tin quản lý YT dự phòng (được chọn hỗ trợ theo quyết định 43/2008/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ và được hỗ trợ bởi viện trợ ODA)
    • Dự án thí điểm Internet cho cộng đồng (ODA của Nhật Bản)
    • Dự án Internet tốc độ cao cho cơ sở và nhân viên YT (được sự hỗ trợ của VNPT)
    • Dự án xây dựng cổng thông tin điện tử ngành YT (được hỗ trợ kinh phí tại quyết định 43/2008)
    • Dự án xây dựng các văn bản pháp quy và hướng dẫn
    • Dự án xây dựng kiến trúc CNTT ngành YT
    • Dự án cung cấp các dịch vụ công y dược
    • Dự án xây dựng hệ thống thông tin quản lý tại sở YT
    • Dự án đào tạo và quản lý nguồn nhân lực YT
    • Dự án thống kê YT và thống kê bệnh viện
    • Dự án xây dựng hệ thống quản lý thuốc, mỹ phẩm
    • Dự án xây dựng bệnh viện điện tử (ERH)
    • Dự án xây dựng hệ thống quản lý thông tin về thực phẩm
    • Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu dân số và quản lý biến động dân cư
    • Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu về y dược học cổ truyền
    • Xây dựng chuẩn thông tin trong giao dịch điện tử YT, chuẩn quy trình hoạt động YT có ứng dụng CNTT và các chuẩn về CNTT sử dụng trong ngành YT
    • Các dự án ứng dụng CNTT trong quản lý tổng thể bệnh viện, các cơ sở YT (từng dự án riêng với các nguồn ngân sách khác nhau).

    Xuân Bách

    ID: B0905_32