• Thứ Năm, 24/09/2009 17:35 (GMT+7)

    Xây dựng chính phủ điện tử: Hợp tác Nhà nước - doanh nghiệp

    Trong xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT), hợp tác Nhà nước - Doanh nghiệp (NN/DN) đang thu hút sự quan tâm của các bên. Việc vận hành/sở hữu toàn bộ hay phần cốt lõi của hệ thống trong hợp tác NN/DN có thể thuê ngoài.

    Đề xuất từ Vietsoftware

    Tại hội thảo lần 7 về CPĐT do hội Tin học TP.HCM và IDG tổ chức mới đây, ông Trần Lương Sơn, tổng giám đốc công ty Cổ phần Phần Mềm Việt - VietSoftware cho biết, cơ quan nhà nước (CQNN) vẫn có thể tự phát triển các ứng dụng và vận hành nội bộ. Tuy nhiên, thực tế đã có không ít trở ngại. Ví dụ, trong mua sắm, phần cứng phân bổ không tương ứng phần mềm (PM); PM mua về thường trên nền đóng, không thể mở rộng hay tích hợp với các hệ thống khác, không thể vận hành liên thông… Hệ thống xây dựng xong chỉ có một chế độ bảo hành hữu hạn về thời gian, thường không có kinh phí bảo trì, nâng cấp, đào tạo hàng năm…

    Mục đích của thuê ngoài là nâng cao hiệu quả phát triển, vận hành hệ thống, giúp CQNN giảm hoặc không cần duy trì năng lực CNTT nội bộ để tập trung vào hoạt động chuyên môn quản lý nhà nước. Khi thuê ngoài, CQNN sẽ gặp các thách thức như: kiểm soát chất lượng, đảm bảo an toàn hệ thống, ít nhiều lệ thuộc vào nhà cung cấp… Hợp tác NN/DN (Public Private Partnerships - PPP) là hình thức hợp đồng đang được thế giới tán thưởng, áp dụng. Ở đó, DN thực hiện dự án/xây dựng hệ thống và cung cấp dịch vụ trên hệ thống đó cho bên thứ ba (công dân, doanh nghiệp…). DN đồng thời tiếp nhận phần lớn rủi ro tài chính, công nghệ và vận hành… NN có thể hợp đồng với một hay nhiều DN về cung cấp tài chính, xây dựng, vận hành các hệ thống của NN hay DN. Các đối tượng thuê ngoài gồm: Thuê xây dựng hệ thống; Thuê vận hành hệ thống; Thuê cung cấp dịch vụ; Thuê hạ tầng vật lý. Bên thuê ngoài có thể sở hữu toàn bộ hệ thống hay một phần cũng như không sở hữu gì.

    Ông Sơn dẫn ví dụ về ứng dụng điều hành tác nghiệp Voffice dành cho các TC/DN gồm 10 mô đun quản lý văn thư tới giao/nhận và theo dõi công việc… Hệ thống cài đặt trên máy chủ, máy người dùng không cần cài đặt. Theo phương thức cũ, TC/DN thường thuê phát triển hay mua phần mềm có sẵn. Phương thức mới coi PM, nền tảng/gói giải pháp và cả hệ thống hạ tầng phần cứng như là dịch vụ. Bên sử dụng không cần kiến thức chuyên gia về công nghệ, không cần vận hành hạ tầng vật lý... Theo phương thức mới, TC/DN dùng Voffice không cần mua hệ thống, chỉ trả phí theo khối lượng sử dụng (số máy sử dụng, thời gian…) cho DN cung cấp.

    Văn bản mới
    THÍ ĐIỂM NỘP HỒ SƠ KHAI THUẾ QUA MẠNG

    Ngày 29/7/2009, Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 1830/QĐ-BTC về việc thực hiện thí điểm nộp hồ sơ khai thuế qua mạng Internet, hiệu lực từ ngày ký. Người nộp thuế (NNT) là các TC/DN được cấp mã số thuế đang hoạt động; NNT lập hồ sơ khai thuế bằng phần mềm Hỗ trợ kê khai do Tổng cục Thuế cung cấp cập nhật phiên bản mới nhất; NNT phải có Chứng thư số còn hiệu lực của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng đã hoặc đang trong quá trình xin cấp phép của Bộ TTTT được Bộ Tài chính chấp thuận; NNT phải có khả năng truy cập và sử dụng mạng Internet và có địa chỉ thư điện tử liên lạc ổn định với cơ quan thuế...
    NNT cần lập hồ sơ đăng ký khai thuế qua mạng theo mẫu số 01/ĐK-iHTKK tại phụ lục của Quyết định 1830. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ của NNT, cơ quan thuế quản lý trực tiếp cấp Thông báo về việc đăng ký nộp hồ sơ khai thuế qua mạng Internet cho NNT qua bưu điện hoặc trực tiếp tại cơ quan thuế. Trường hợp hồ sơ của NNT là không hợp pháp, hợp lệ, cơ quan thuế phải thông báo cho NNT biết trong thời hạn trên. Cơ quan thuế thông báo cho NNT số tài khoản iHTKK (mã đăng nhập cổng thông tin điện tử của ngành thuế) và mật khẩu đăng nhập lần đầu qua địa chỉ thư điện tử của NNT. Liên hệ với chuyên gia hỗ trợ NNT qua: hotrohtkk@gdt.gov.vn.
    Quỳnh Anh (tổng hợp)

    Kinh nghiệm từ nước ngoài

    “PPP mang lại kết quả phát triển kinh tế cao hơn và chất lượng sống tốt hơn”, ông Suhas Hiwale, đến từ Sequent Infosystems (Hồng Kông), diễn giả trong hội thảo nói trên cho biết. Theo ông, tiềm năng sáng tạo và công nghệ mới của các DN nếu được kết hợp với sự thấu hiểu các vấn đề nhà nước của CQNN sẽ mang lại hiệu quả tác nghiệp cũng như giải phóng những năng lực xã hội để giải quyết những vấn đề của chính xã hội.

    Những trách nhiệm chính của đội ngũ PPP gồm: Tư vấn cho nhà lãnh đạo, nhân viên của các CQ/DN để xác định cơ cấu tổ chức của sự hợp tác, mức độ rủi ro cho phép và đòi hỏi tối thiểu cho dịch vụ; Ban hành chính sách cho đội PPP với các chuẩn mực phải tuân thủ và triển khai quan hệ đối tác, chính sách này phải đạt được trong quá trình tư vấn; Đảm bảo cho DN một vị trí duy nhất trong quy trình của CQNN để vào số liệu; Soạn thảo chiến lược và quy trình cung cấp dịch vụ để huấn luyện nhân viên và tuyên truyền cho công chúng về ích lợi của PPP; Thể hiện chi tiết cách thức mà CQNN đảm bảo chất lượng dịch vụ công; Xác định và đánh giá hiện tại và tương lai của PPP, bao gồm các trách nhiệm…

    Ông Suhas Hiwale nêu ví dụ thành công của mô hình PPP trong một dự án giao thông đô thị ở Ấn Độ. Trong dự án, thành phần lãnh đạo gồm thị trưởng, đại diện sở Giao thông Vận tải; đại diện các khu vực công; Chuyên gia về vấn đề giao thông. CQNN hợp tác với 4 nhóm đối tác tư nhân: Các hãng xe buýt; Các nhà khai thác hệ thống định vị vệ tinh GPS (để theo dõi, giám sát trực tuyến các đội xe bằng GPS); Các nhà quảng cáo (thu được khoảng 10.000 rupees (3,6 triệu đồng)/xe/tháng); Các đại lý bán vé. Họ đặt ra các quy cách, định mức từ nhà chờ, khoảng cách giữa các nhà chờ, giá vé theo từng đoạn đường (chia làm nhiều loại vé tháng, vé cho người già và trẻ em, vé mua đi liền), tỷ lệ ăn chia… NN hưởng 40% tiền quảng cáo trên xe, 20% tiền vé tháng (pass).

    Ông Suhas Hiwale chia sẻ: “PPP thành công khi trách nhiệm được ấn định cho cấp độ chất lượng dịch vụ, sự tuân thủ, tinh thần làm việc cạnh tranh, siêng năng; Quy trình minh bạch; Phân tán rủi ro; Đảm bảo hiệu quả kinh tế; Có chiến lược truyền thông và đủ nguồn nhân lực triển khai. Trong PPP, “hai nền văn hoá” gặp nhau và các khu vực công tham gia với vai trò “khách hàng thông minh”, chuyển công việc sự vụ cho khu vực tư thực hiện”.  

    Văn bản mới
    CUNG CẤP THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÂN

    Bộ TTTT đã ban hành thông tư số 26/2009/TT-BTTTT, ngày 31/7/2009, quy định về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của CQNN nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân dễ dàng khai thác, sử dụng. Thông tư này áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức sự nghiệp trực thuộc; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan chuyên môn trực thuộc; UBND các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, có trang thông tin điện tử. Thông tư có 5 chương, 17 điều, quy định cụ thể về nội dung cung cấp thông tin, bố cục, cách trình bày, tần suất cập nhật, đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện cho cả người khuyết tật, đảm bảo an toàn và an ninh thông tin… Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2009.
    Đặc biệt, thông tư đã giải thích rõ khái niệm về các dịch vụ hành chính công, dịch vụ công trực tuyến. Theo đó, (1) Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do CQNN (hoặc TC/DN được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà CQNN đó quản lý. (2) Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của CQNN được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng.
    Dịch vụ công trực tuyến chia theo 4 mức độ: Mức độ 1 cung cấp đầy đủ thông tin về quy trình, thủ tục, hồ sơ, thời hạn, phí và lệ phí thực hiện dịch vụ. Mức độ 2, đạt mức 1 cộng cho phép tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ, gửi trực tiếp hoặc qua bưu điện đến CQ/TC cung cấp dịch vụ (CCDV). Mức độ 3 đạt mức 2 cộng cho phép điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến CQ/TC CCDV; giao dịch xử lý hồ sơ và CCDV trực tuyến; thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả tại CQ/TC CCDV. Mức độ 4 đạt mức 3 cộng cho phép thanh toán lệ phí (nếu có) trực tuyến; gửi trả kết quả trực tuyến, trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.
    Lan Uyên (tổng hợp)

    Thế An

    ID: B0909_28