• Thứ Năm, 21/01/2010 07:39 (GMT+7)

    Cuộc đồng hành chưa trọn vẹn

    Chương trình “Nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp” được khởi xướng mấy năm qua với mục tiêu rất rõ ràng nhưng nhìn lại, ngoài những kết quả đáng kể, còn không ít điều chưa được như kỳ vọng.

    Những mục tiêu đã đặt ra cụ thể là các cơ quan chức năng của bộ máy nhà nước (NN) cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp (DN), tháo gỡ các khó khăn cho DN, hỗ trợ và tạo điều kiện cho cộng đồng DN phát triển mạnh mẽ. Trước hết, nói về các cơ quan quản lý (CQQL) NN. Chúng tôi chọn TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, An Giang là những tỉnh, thành phố có trình độ phát triển CNTT hàng đầu khu vực phía Nam để tìm hiểu nỗ lực đồng hành từ phía CQNN thông qua các cổng thông tin điện tử của các địa phương này.

    Đáp ứng nhu cầu thực

    TP.HCM là nơi được nhiều chuyên gia đánh giá có trình độ ứng dụng CNTT vào công tác QLNN cao nhất. Thông qua cổng ở địa chỉ http://www.hochiminhcity.gov.vn/index_cityweb, có thể thấy ngay trên trang chủ 3 nội dung mà các CQNN hướng đến DN: Phong phú nhất là hướng dẫn các thủ tục hành chính (TTHC) - 21 lĩnh vực như tài chính, thuế, đầu tư kinh doanh, thương mại, du lịch, văn hóa, tư pháp, giáo dục, KHCN… với sự tham gia của 17/38 sở ngành và 24/24 quận, huyện. Thông tin về trạng thái xử lý hồ sơ được cung cấp từ 5 sở và 20 quận, huyện. Chỉ có 2 dịch vụ (DV) công thực sự là đăng ký kinh doanh (của Sở KHĐT) và cấp phép xây dựng (của Sở XD) được cung cấp trực tuyến. Như thế, đại đa số các sở, ngành, quận, huyện chưa sẵn sàng cung cấp DV công qua mạng (nội dung chính của chương trình chính quyền điện tử). Sự sôi động trong giao dịch 2 chiều CQQLNN – DN không thấy rõ ở 2 nội dung trên (TTHC và DV công) nhưng lại khá sôi động ở chương trình “Đối thoại DN - chính quyền thành phố”. Sáng kiến này của TP.HCM bắt đầu được triển khai vào tháng 11/2002. Tính đến ngày 17/12/2009, đã có 10.247 câu hỏi được trả lời, trung bình 1 ngày 5 câu. Câu hỏi do DN gửi đến ban điều hành hệ thống sẽ được chuyển đến sở, ngành hữu quan và các cơ quan này trả lời công khai trên cổng cho DN sau 3 đến 7 ngày.

    Chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển hóa đầy thử thách với cả CQNN lẫn DN.

    Tại Bình dương, qua website http://binhduong.gov.vn/vn/index.php có thể tìm thấy 16 lĩnh vực được hướng dẫn TTHC chi tiết đến từng bước thực hiện (như báo chí xuất bản, bưu chính viễn thông, công thương, du lịch, đầu tư kinh doanh, xây dựng, y tế…) do các sở, ngành cung cấp. Chưa thấy DV công nào trên mạng.

    Tại Đồng Nai, website http://www.dongnai.gov.vn chỉ giới thiệu TTHC tại 9 sở, ngành (Hải quan, Thuế, GTVT, KHĐT, Ngoại vụ, KHCN, NN và PTNT, Tư pháp, Xây dựng) và 1 DV công là đăng ký kinh doanh qua mạng của Sở KHĐT.

    Tại An Giang, cổng http://angiang.gov.vn/wps/portal/ giới thiệu và cập nhật thường xuyên tất cả các TTHC trong tỉnh cộng với 3 DV công trực tuyến là DV đăng ký kinh doanh (tại Sở KHĐT và thị xã Tân Châu), đăng ký hành nghề y dược tư nhân (Sở Y tế) và đăng ký giấy phép lái xe, giấy phép phương tiện giao thông thủy, nội địa (Sở GTVT).

    Có thể hiểu được việc công bố các thủ tục đã có sẵn đơn giản hơn rất nhiều so với việc cung cấp DV công theo phương pháp hoàn toàn mới (qua mạng) vì việc thứ hai đòi hỏi sự thay đổi toàn diện về phương pháp và cách thức làm việc của bộ máy NN. Theo nhiều chuyên gia, chưa thấy có một báo cáo chính thức nào đề cập đến việc CQ chức năng của NN thực hiện khảo sát chi tiết nhu cầu thật sự của các DN nên các DV công này chỉ hướng đến các DN trong giai đoạn thành lập mới là chính, chứ không phải các DN đang hoạt động.

    Cần hướng đi lâu dài

    Về phía các DN cũng có thể nhận thấy một hình ảnh tương tự. Trong ứng dụng CNTT vào quản lý sản xuất và kinh doanh, cụ thể trường hợp ứng dụng thương mại điện tử (TMĐT), các DN đang hướng đến mô hình B2B (giữa DN và DN) và B2C (giữa DN và người tiêu dùng) là chính, còn mô hình B2G (giữa DN và CQNN) thì gần như chưa DN nào tiếp cận. Theo khảo sát sơ bộ của chúng tôi, tất cả các DN đăng ký sử dụng DV công đều là các DN trong giai đoạn thành lập mới. Họ truy cập vào hệ thống để tìm kiếm những TTHC liên quan và tranh thủ tối đa các tiện ích từ các DV công trực tuyến để tiết kiệm thời gian và việc đi lại. Theo nhiều DN, lợi ích cao nhất mà các DN có được thông qua chương trình đồng hành cùng DN của các CQ chức năng là cơ hội tìm kiếm và tra cứu các thông tin cần thiết. Các DN đã thành lập thường quan tâm đến nhiều vấn đề thực tế hơn và thường liên quan đến nhiều lĩnh vực. Đây là lý do vì sao chương trình đối thoại NN – DN của TP.HCM lại thu hút được sự chú ý của các DN đến như vậy.

    Trong nhiệm vụ QLNN đối với DN thì nội dung hỗ trợ, hướng dẫn, tạo điều kiện để DN phát triển chiếm đến 70% khối lượng công việc, nội dung kiểm soát, quản lý để đảm bảo DN thực hiện đúng các quy định của NN chỉ chiếm 30%. Thực tế cho thấy ở nhiều nơi, các cấp chính quyền đang phấn đấu tháo gỡ khó khăn cho DN, giảm phiền hà cho DN bằng các biện pháp cải cách hành chính, rất ít địa phương đi xa hơn theo hướng vạch ra định hướng phát triển cho cộng đồng DN và hỗ trợ thật sự cho các DN đi theo hướng đó với hệ thống các cơ chế, chính sách cụ thể. Đề án cấp quốc gia (đề án 191) có tham vọng tạo nên sức bật cho DN chủ động hội nhập và phát triển nhờ ứng dụng CNTT rộ lên rồi có vẻ như lịm dần. Cũng có nhiều DN lo đối phó với những quy định của CQ chức năng hơn là hợp tác. Như thế, cuộc đồng hành này vẫn còn đầy khó khăn.

    Ninh Thuận:

    6 nội dung ứng dụng năm 2010

    Cuối năm 2009, Sở TTTT tỉnh Ninh Thuận đã đưa ra kế hoạch ứng dụng CNTT năm 2010 với 6 nội dung chính:

    1. Đào tạo chuyên viên quản trị mạng (MCSA), phổ cập kiến thức về phần mềm nguồn mở, kỹ năng sử dụng máy tính và Internet phục vụ công tác... là các ưu tiên trong đào tạo nguồn nhân lực

    2. Quản lý, vận hành, khai thác mạng truyền số liệu chuyên dùng cơ quan Đảng - Nhà nước và hệ thống mạng LAN đã kết nối một cách an toàn, có hiệu quả nhằm phục vụ tốt cho các hoạt động: Hội nghị truyền hình trực tuyến giữa UBND các tỉnh với Chính phủ, các cơ quan Trung ương và UBND 7 huyện/thành phố; Vận hành thông suốt và an toàn Cổng thông tin Ninh Thuận và hệ thống web-part của các ngành/địa phương; Khai thác tốt thư điện tử của hệ thống xxx@ninhthuan.gov.vn đã cấp cho các đơn vị, cá nhân trong tỉnh vào phục vụ công vụ hàng ngày

    3. Hoàn thành đưa vào khai thác hệ thống web-part của các ngành/địa phương để đưa các thủ tục hành chính công của các ngành/địa phương đã công bố lên mạng đạt mức 3 và các thông tin nội bộ ngành/huyện

    4. Xây dựng, đưa vào vận hành, khai thác phần mềm quản lý văn thư sử dụng chung cho các cơ quan nhà nước tỉnh/huyện

    5. Đề án 191 tập trung tư vấn, hỗ trợ các PM ứng dụng để tin học hóa quản trị DN (kế toán tài chính, quản lý nhân sự); triển khai chương trình thương mại điện tử

    6. Tham gia xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin và truyền thông cấu trúc vào các dự án đầu tư hạ tầng chung của tỉnh: Thực hiện quy hoạch chi tiết TP.Phan Rang - Tháp Chàm; Thực hiện quy hoạch kinh tế vùng ven biển Ninh Thuận, xây dựng tuyến đường ven biển tỉnh Ninh Thuận; Chuẩn bị hạ tầng thông tin và truyền thông cho dự án nhà máy điện hạt nhân...

    Dương Ngọc Hưng, Giám đốc Sở TTTT tỉnh Ninh Thuận


    Nguyên Thảo
    ID: B1001_30