• Thứ Ba, 15/06/2010 09:37 (GMT+7)

    Lấp đầy “lỗ hổng” hợp tác công tư

    Trần Đức
    Dịch vụ hóa lĩnh vực công hay phát triển mô hình hợp tác Nhà nước – doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT-TT là vấn đề đang được Bộ TTTT đưa ra bàn thảo và tìm một hướng đi mới.

    Mô hình hợp tác Nhà nước (NN) – doanh nghiệp (DN) hay còn gọi là quan hệ đối tác công tư (PPP-Public Private Partnerships) thực tế đã được triển khai thành công ở nhiều nước trong nhiều lĩnh vực. Với lĩnh vực CNTT-TT, do đặc thù chi phối khá lớn với các ngành khác nên thường được Chính phủ quan tâm đầu tư.

    Với các quốc gia đang phát triển hoặc có trình độ ứng dụng CNTT chưa cao, một trong những rào cản đưa CNTT vào công tác quản lý, điều hành của NN và đơn giản hóa giao dịch giữa NN với công dân là nguồn vốn đầu tư ban đầu quá lớn. Mô hình hợp tác PPP là lựa chọn khả thi để NN có được các dịch vụ và công nghệ mới nhất trong lĩnh vực CNTT-TT với chi phí hợp lý. Ngược lại, các DN hoạt động trong lĩnh vực CNTT-TT cũng có cơ hội để trở thành đối tác và duy trì các dịch vụ lâu dài của mình với NN.

    Tại hội thảo “Mô hình hợp tác NN – DN ((PPP) trong lĩnh vực TTTT” do Bộ TTTT và Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức tại Hà Nội ngày 15/4/2010, nhiều ý kiến tham vấn cũng đã được gửi đến Bộ TTTT để NN sớm có các chính sách phù hợp. Những thuận lợi và khó khăn của mô hình hợp tác PPP trong lĩnh vực CNTT-TT cũng đã được các chuyên gia trong và ngoài nước cảnh báo.

    “Phải có những quy định rõ ràng về PPP và tăng tính cạnh tranh bằng việc gia tăng quyền lợi của DN trong các dự án công”, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc WB Việt Nam.

    Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, một trong những động lực thúc đẩy mô hình PPP là NN phải có một hành lang pháp lý về lĩnh vực này. Tuy nhiên, chỉ riêng luật chưa thể khiến DN mặn mà với lĩnh vực công nếu không gắn quyền lợi của NN với lợi ích DN. Do đó, theo bà Kwakwa, “Việt Nam phải hành động cụ thể lấp đầy những lỗ hổng về PPP”.

    Theo bà, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia đang phát triển khác luôn có một khoảng cách giữa nhu cầu phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội như giao thông, môi trường, CNTT-TT… so với tiềm lực thực tế. Trong các lĩnh vực quan trọng này, NN luôn phải “quán xuyến” từ A tới Z dẫn đến sự quá tải trong nhiều bộ phận hành chính công. Thêm vào đó, thái độ quan liêu của một bộ phận công chức cũng khiến các dịch vụ công phát triển chậm, chất lượng thấp. Đại diện WB cho rằng, để cải thiện vấn đề này, cần có sự góp mặt bình đẳng của lĩnh vực kinh tế tư nhân. Mô hình PPP có thể lấp đầy những lỗ hổng trong dịch vụ công nhiều quốc gia đang gặp.

    Để khuyến khích DN tham gia vào lĩnh vực công, NN phải đưa ra những quy định rõ ràng và tăng tính cạnh tranh bằng việc tăng quyền lợi cho DN. Nhiều chuyên gia quốc tế nhận định, Việt Nam hiện chỉ mới ở giai đoạn đầu của mô hình PPP và thường diễn ra ở một số lĩnh vực kinh tế khác không phải là CNTT. Đối với CNTT-TT, các dự án của NN mang tầm vĩ mô thường không hấp dẫn đối với DN do lợi ích lâu dài của DN chưa được coi trọng. Bà Kwakwa đề xuất một hệ thống chính sách minh bạch cho Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả các dự án CNTT-TT.

    ID: B1005_32