• Thứ Tư, 04/08/2010 15:17 (GMT+7)

    Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp phần mềm Triển khai CMMi

    Như Dũng - Thu Nga
    Thứ trưởng Bộ TTTT Trần Đức Lai nhận định: Công nghiệp phần mềm và Nội dung số là lĩnh vực Việt Nam có nhiều cơ hội và Chính phủ tạo điều kiện cho các DN, trong đó có hỗ trợ triển khai quy trình sản xuất theo CMMi.

    Tại hội thảo “Hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) triển khai quy trình sản xuất theo chuẩn CMMi” do Bộ TTTT tổ chức ngày 9/6/2010 tại TP.HCM, ông Trần Đức Lai cho biết, công nghiệp PM (CNpPM) và công nghiệp nội dung số (CNpNDS) đang tăng trưởng tốt; riêng CNpNDS tăng 60%/năm. Bộ TTTT muốn xây dựng chiến lược, quy trình phát triển CNpPM&NDS và các DN CNpPM&NDS nên theo chuẩn CMMi để dễ hội nhập.

    CMMi với DN PM&NDS 

    “Triển khai CMMi có lợi không chỉ cho ngành PM mà cho toàn ngành CNTT nói chung, đặc biệt trong ứng dụng”, ông Nguyễn Trọng Đường.

    CMMi (Capability Maturity Model Integration - mô hình trưởng thành năng lực tích hợp do Viện Kỹ nghệ PM - SEI, ĐH Carnegie Mellon của Mỹ đề xướng) là mô hình cải tiến quy trình dành cho phát triển sản phẩm và dịch vụ. Mô hình này bao gồm các bài thực hành liên quan đến các hoạt động phát triển và bảo dưỡng sản phẩm hoặc dịch vụ trong suốt quá trình từ lúc có yêu cầu cho đến khi bàn giao và bảo dưỡng/bảo hành. Theo ông Nguyễn Trọng Đường, Vụ trưởng Vụ CNTT, Bộ TTTT, Trưởng ban quản lý Dự án Công nghiệp CNTT, đơn vị chủ trì Dự án Hỗ trợ DN áp dụng CMMi thì triển khai CMMi dù đạt hay không đạt chứng chỉ, DN được nhiều cái lợi vì quy trình sản xuất trong DN được nâng lên đáng kể.  

    Ông Đường khẳng định: lĩnh vực PM Việt Nam trở thành công nghiệp hay không là phụ thuộc vào việc có sản xuất theo quy trình hay không (hiện chủ yếu sản xuất thủ công). CMMi thể hiện DN quy củ, công nghiệp và mạnh, giúp nâng cao năng lực và sức cạnh tranh cho từng DN cũng như cho toàn ngành PM. “Có” CMMi, DN không sợ tình trạng công nghệ, mã nguồn chỉ do một vài người nắm giữ - là tình trạng thường gây nhiều khó khăn cho DN khi có người nào đó trong họ chuyển nơi khác. “Có” CMMi, cả quy trình được ghi chép rõ ràng, lưu giữ cẩn thận và dễ dàng tiếp quản. Việc nâng cấp sản phẩm sau này cũng vì thế mà dễ hơn nhiều.  

    Theo TÜV Rheinland, công ty của Đức cung cấp dịch vụ sát hạch cấp chứng chỉ CMMi, chi phí triển khai CMMi không rẻ. Trung bình, 1 DN tốn 50.000 USD để đạt mức 3 (trung bình). Con số này thay đổi tùy số NV, chi nhánh của mỗi công ty. Trong số những DN PM Việt Nam đã đạt CMMi, có những DN lớn với số lập trình viên lên đến 500 nhưng cũng có DN mà số NV từ 50 - 150. “Vấn đề là DN phải xác định được sự cần thiết phải làm việc theo quy trình”, bà Võ Phương Tâm, phụ trách bộ phận CNTT-TT của TÜV Rheinland nhấn mạnh. “Khi triển khai CMMi cần nhiều lực lượng, bộ phận, phòng ban và con người trong các phòng ban. Vì vậy, DN ít người sẽ tốn nhiều thời gian, công sức để thực hiện”.  

    Việt Nam đang có gần 1.000 DN PM nhưng mới có khoảng 10 DN có CMMi, trong đó, 2 DN đạt mức cao nhất (5) là CSC và FPT; hơn 30 DN tuyên bố đang áp dụng CMMi.

    Cũng theo bà Tâm, chỉ 30% các công việc khi triển khai CMMi có thể thuê ngoài và đó chủ yếu là các công việc liên quan đến đào tạo. Phần quan trọng nhất trong triển khai CMMi là làm báo cáo (để có bằng chứng cho việc đã xây dựng và thực hiện quy trình, khác với ISO). Đây cũng là phần khó khăn nhất bởi nhiều lập trình viên cho rằng làm ra sản phẩm quan trọng hơn viết báo cáo… Trong CMMi có mô-đun “Organisation Training”, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trong nội bộ. Nếu sử dụng tốt mô-đun này sẽ cải thiện được rất nhiều về nhân sự. Nó đảm bảo nội dung công việc cụ thể của từng cá nhân trong dự án và đầu ra của công việc. Bà Tâm cho biết thêm, quy trình của CMMi phân rất rõ quy trình nào phải thực hiện công việc gì, vai trò như thế nào. Qua đó giúp phân đúng người đúng việc và mang lại quy trình sản xuất chất lượng hơn. Thực tế tại các DN đã có chứng chỉ cho thấy CMMi hỗ trợ DN rất nhiều trong sắp xếp nguồn nhân lực sao cho hiệu quả. Khó khăn lớn nhất là làm sao cho cả DN đồng lòng làm CMMi. Vì thế, nhiều người cho rằng mức 2 là khó nhất bởi lúc này mới bắt đầu lôi kéo mọi người có ý thức cần phải làm theo quy trình tham gia vào xây dựng quy trình.  

    Triển khai CMMi tại FSoft 

    Bà Nguyễn Thu Hà, Trưởng ban đảm bảo chất lượng FPT Software – FSoft giới thiệu kinh nghiệm triển khai CMMi tại FSoft trong thời gian từ 2/2001 đến 3/2002. Khi đó, Công ty đã triển khai thẳng lên mức độ 4. Sau này, FSoft còn trải qua nhiều đợt đánh giá nữa và đã đạt CMMi5 vào năm 2006. Bà Hà kể, ban đầu, khi Ban lãnh đạo quyết định thực hiện dự án, qua các bước khởi động, đào tạo tổng quan về CMM, tự đánh giá, đánh giá thử và thực hiện…  

    “Trong triển khai, áp dụng quy trình sản xuất theo chuẩn CMMi, quan trọng nhất là cam kết của lãnh đạo; ý thức tuân thủ quy trình của NV; đội ngũ đảm bảo chất lượng (QA) vững mạnh; trách nhiệm về chất lượng là của tất cả mọi người; việc quản lý dự án, dữ liệu có công cụ thực hiện”, bà Nguyễn Thu Hà.

    Lúc khởi động, việc đầu tiên là chọn người quản trị dự án. Ban lãnh đạo quyết định xuất khẩu PM cho nên giám đốc chất lượng lúc đó của Tổng công ty FPT được cử về trực tiếp quản trị dự án. FSoft nhận thấy nếu đã có ISO thì việc làm CMMi ở mức 3 sẽ chỉ hơn một chút. Vì thế, FSoft quyết định chọn làm mức 4, đánh giá theo giai đoạn. Đơn vị tư vấn đánh giá là KPMG Ấn Độ. FPT cử 10 người toàn thời theo sát dự án. Giai đoạn đào tạo nội bộ hết 1 tháng. Đào tạo tổng quan về CMMi hết 2 ngày. Thời gian triển khai cả thảy 13 tháng từ tháng 2/2001 đến tháng 3/2002. Theo bà Hà, thời gian đánh giá tùy thuộc vào quy mô của tổ chức, thường là 3 - 5 ngày. Bà Hà cho biết thêm, để triển khai mức 3, DN cần có 1 năm. Mức 4 - 5 từ 1,5 đến 2 năm. Trong thời gian FSoft triển khai dự án, việc đánh giá thử được thực hiện trong suốt quá trình, khi đánh giá thử là khắc phục lỗi.  

    Tháng 1/2002, FSoft bắt đầu đánh giá mức độ sẵn sàng của công ty để đánh giá chung cuộc. Đánh giá chính thức vào tháng 2/2002. Việc đào tạo chuyên gia đánh giá mất 3 ngày, những người học là thành viên đoàn đánh giá, đều là người nội bộ. Đánh giá chính thức có 2 phần: đánh giá tài liệu (không cần đến tận công ty) và đánh giá phần thực hiện (tại công ty). Chuyên gia đánh giá trưởng là người được SEI chứng nhận đủ điều kiện.

    Hỗ trợ DN áp dụng CMMi 

    Ông Trần Hoài Nam, Vụ CNTT đã giới thiệu nội dung của dự án Hỗ trợ các DN triển khai quy trình sản xuất theo chuẩn CMMi. Mục tiêu của dự án là hỗ trợ 90 DN xây dựng, áp dụng quy trình và đánh giá, đạt chứng chỉ CMMi từ mức 3 trở lên. Dự án sẽ đào tạo cho DN về CMMi; hỗ trợ xây dựng, áp dụng quy trình với tối đa 15.000 USD/DN; hỗ trợ đánh giá, lấy chứng chỉ, tối đa 10.000 USD/DN.  


    Các diễn giả tại hội thảo “Hỗ trợ các DN triển khai quy trình sản xuất theo chuẩn CMMi”.

    Ban Quản lý các dự án CNpCNTT là đơn vị quản lý, tổ chức triển khai dự án. Thời gian thực hiện từ năm 2010 – 2012. Bộ TTTT sẽ lựa chọn nhà tư vấn hỗ trợ DN làm CMMi và DN được hỗ trợ bằng khối lượng tư vấn được chuyển giao từ nhà tư vấn, chi phí hỗ trợ cho DN được thanh toán cho nhà tư vấn theo khối lượng tư vấn nhưng không quá mức hỗ trợ của Nhà nước, chi phí phát sinh do DN tự chi trả; thời gian để DN xây dựng, áp dụng quy trình và đánh giá, đạt chứng chỉ CMMi mức cam kết không vượt quá 18 tháng.  

    Quy trình triển khai dự án gồm: Sơ tuyển DN tham gia; hội thảo, đào tạo về CMMi; lựa chọn nhà tư vấn hỗ trợ DN; giám sát triển khai dự án (gồm triển khai phần xây dựng, áp dụng quy trình theo chuẩn CMMi; triển khai phần đánh giá đạt chứng chỉ CMMi); thanh toán chi phí hỗ trợ DN cho nhà tư vấn.  

    Tiêu chí sơ tuyển DN tham gia dự án dựa trên doanh thu sản xuất PM; số lượng NV làm PM; số lượng NV làm quy trình hoặc quản lý chất lượng PM; ưu tiên các DN triển khai CMMi lần đầu. Bộ TTTT ủng hộ ý kiến quan tâm đến các DN trong nước trước. Các hội thảo và khoá đào tạo về CMMi được làm ở Hà Nội và TP.HCM.  

    Việc chọn nhà tư vấn dựa trên: năng lực, kinh nghiệm; số chuyên gia tư vấn và đánh giá trưởng; số DN đã đạt được thoả thuận; phương án tài chính. Thanh toán chi phí tiến hành 3 đợt: 80% chi phí hỗ trợ phần xây dựng, áp dụng quy trình khi DN áp dụng vào ít nhất 3 dự án thực tế; 20% chi phí còn lại khi DN bắt đầu đánh giá thử; 100% chi phí hỗ trợ phần đánh giá, đạt chứng chỉ khi DN đạt chứng chỉ. 

    Hiện Bộ TTTT đã nhận 60 hồ sơ của các DN đăng ký tham gia, danh sách DN qua sơ tuyển được quyết định vào cuối tháng 6/2010. Sau khi lựa chọn nhà tư vấn, Bộ sẽ ký hợp đồng 3 bên gồm Bộ, DN và nhà tư vấn để giám sát thực hiện. Bộ TTTT cho biết, FSoft nhận chuyển giao tài liệu làm CMMi của mình cho Bộ dưới dạng mã nguồn mở và Bộ sẽ tạo điều kiện để DN tải về ứng dụng. FSoft cũng sẵn sàng hỗ trợ DN áp dụng CMMi.

    Ông Đỗ Văn Ngọc - Giám đốc Hệ thống Thông tin & Quản lý Chất lượng của công ty CSC Việt Nam: 

    Quá trình xây dựng và cải tiến quy trình tại công ty CSC Việt Nam song hành lâu dài cùng với việc phát triển kinh doanh của công ty. Chúng tôi bắt đầu tìm hiểu và triển khai CMM từ đầu năm 2000 và đạt được CMM Cấp 2 vào tháng 2/2002, sau đó công ty tiếp tục nâng lên CMM cấp 4 vào năm 2003. Đầu năm 2005, CSC Việt Nam triển khai thành công CMMI Cấp 5, phiên bản 1.1 và một lần nữa vào năm 2009. CSC Việt Nam là công ty đầu tiên tại Việt Nam đạt chuẩn CMMi Cấp 5, phiên bản mới nhất 1.2. Qua quá trình triển khai và cải tiến quy trình, chúng tôi chắt lọc ra những kinh nghiệm như sau:  

    1) Được sự hỗ trợ và cam kết đầu tư của ban lãnh đạo công ty là yếu tố cực kỳ quan trọng. Vai trò của ban lãnh đạo ở đây không những hỗ trợ chi phí, cơ sở vật chất mà còn là những người thắp lên và truyền ngọn lửa nhiệt huyết cho tất cả các nhân viên để thực hiện cải tiến quy trình thành công như mục tiêu đã đề ra. 

    2) Mỗi công ty nên có một nhạc trưởng có kinh nghiệm chuyên sâu về quy trình và tâm huyết để dẫn dắt đội ngũ quản lý quy trình và tiếp tục duy trì “ngọn lửa” đó liên tục trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện quy trình. 

    3) Xem CMMi là một dự án quan trọng và là mục tiêu chiến lược của công ty, vì khi đã triển khai thành công chuẩn CMMi sẽ giúp duy trì niềm tin của khách hàng hiện tại và thu hút nhiều khách hàng hơn trong tương lai. 

    4) Nên có một chi phí dành riêng cho việc khen thưởng đội ngũ nhân viên trực tiếp và gián tiếp đóng góp vào thành công của dự án. 

    5) Tối đa hóa sự tự động hóa quy trình ở tất cả các khâu hoạt động nếu có thể. 

    6) Việc xây dựng quy trình nên dựa vào thực chất hoạt động kinh doanh của công ty. Những tài liệu và quy trình của công ty khác chỉ nên xem như là tài liệu tham khảo. 

     

    ID: B1007_34