• Thứ Ba, 14/09/2010 09:01 (GMT+7)

    Triển khai Chính phủ điện tử: Yếu tố nào quyết định?

    Nguyễn Tuấn Hoa
    Chính phủ điện tử (CPĐT) đang đi vào chiều sâu của quá trình triển khai. Đa số chuyên gia và nhà quản lý đều cho rằng có 4 yếu tố quan trọng hàng đầu là: Thể chế hay cách thức vận hành của bộ máy chính quyền, con người, công nghệ và tài chính. Nhưng yếu tố nào quyết định thì có nhiều quan điểm.

        >> Triển khai chính phủ điện tử tại Singapore: 5 “bí quyết”

        >> Xây dựng chính quyền điện tử: Bài toán hệ thống tổng hợp thông tin

    Công nghệ, tài chính, nhân lực không thể quyết định

    Từ năm 1980, công nghệ nổi lên như một bên của những điều kiện tiên quyết. Những người lạc quan còn khẳng định có máy tính mạnh và công cụ phát triển ứng dụng tốt là giải quyết được mọi chuyện. Có thể vào thời bao cấp các quy trình đều được xác lập cứng nên những nhà phát triển ứng dụng CNTT ngộ nhận rằng chỉ cần mô phỏng đúng những quy trình là đáp ứng yêu cầu. Vì thế, công nghệ mới được kỳ vọng. Dần dần, vấn đề được hiểu không phải như vậy mặc dù trong 30 năm trở lại đây, công nghệ chính là yếu tố phát triển nhanh nhất, mạnh nhất và là tác nhân tạo nên sự thay đổi kỳ diệu về cách thức mà xã hội vận động. Trong đó, Internet và những mạng máy tính hùng mạnh được xem là trung tâm. Đến nay (năm 2010) yếu tố công nghệ lại là thứ yếu vì không phải lo lắng về năng lực xử lý của máy tính, tốc độ truyền thông, các công cụ phát triển… Cái gì gần như cũng có sẵn.

    Việc xây dựng, chuẩn hoá và pháp lý hoá những quy trình nghiệp vụ (business procedures) đóng vai trò quyết định sự thành bại của việc triển khai CPĐT.

    Từ năm 1990, tài chính được khẳng định. Có tiền thì mới làm được. Điều này có lý do là kinh phí dành cho ứng dụng CNTT lúc đó rất hạn chế, thấp đến mức không thể trông đợi có được kết quả khả quan. Trong khoảng thời gian này, GDP của đa số địa phương ở nước ta còn thấp, rất nhiều địa phương còn trông vào sự hỗ trợ từ Trung ương, bởi vậy, việc chia sẻ cho ứng dụng CNTT khoảng 0.1% GDP của địa phương thì đã là cố gắng. Vào giữa thập niên 90, chương trình tin học hoá quốc gia được cấp vài trăm tỷ đồng đã là một kỷ lục về ngân sách đầu tư cho ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, đến lúc có tiền lại thấy bao nhiêu cũng không đủ và tiền không phải là yếu tố quyết định.

    Từ năm 2000, khi các ứng dụng CNTT ở nước ta bắt đầu đi sâu theo hướng chuyên nghiệp, chính tắc, cần có lực lượng chuyên sâu cho nhiều vị trí (xây dựng chiến lược, xây dựng hệ thống chuẩn, thiết kế kiến trúc, xây dựng hệ thống CSDL…) thì mới thấy rằng vai trò quan trọng của nguồn nhân lực. Chỉ tính riêng quản trị dự án (project manager) lúc đó cũng chỉ đáp ứng <20% số lượng yêu cầu. 

    Càng đi sâu, nhu cầu càng phát sinh không chỉ cần các nhà kỹ thuật phát triển hệ thống ứng dụng mà còn những người hoạch định chính sách về CNTT-TT, lãnh đạo địa phương và các sở, ngành, các chuyên viên trực tiếp vận hành, khai thác các hệ thống ứng dụng - kết quả của các dự án và những người được phục vụ bởi các hệ thống ứng dụng này (người dân nói chung). Giả sử có đầy đủ lực lượng thì liệu tiến trình xây dựng CPĐT sẽ diễn ra suôn sẻ và sẽ không còn vướng mắc nào? Có lẽ không phải nếu cách thức hoạt động của bộ máy chính quyền không thay đổi.

    Quy trình vận hành là then chốt

    CPĐT khác với CP truyền thống ở khía cạnh: tổ chức và xử lý thông tin nhằm phục vụ người dân. CNTT-TT mang lại những khả năng mới, trong đó chủ yếu là tốc độ xử lý dữ liệu rất cao, khả năng lưu trữ và khai thác thông tin gần như vô hạn và triệt tiêu khoảng cách đối thoại giữa người dân và chính quyền. Bộ máy chính quyền áp dụng những khả năng mới này vào hoạt động hàng ngày để phục vụ người dân và quản lý xã hội được gọi là chính quyền điện tử.

    Những quy trình nghiệp vụ QLNN mang những nhân tố mới về CNTT-TT luôn cần có quỹ thời gian hoàn thiện dài. Việc xây dựng CPĐT cần có thời gian chứ không thể làm gấp trong vài năm.

    Theo lý thuyết hệ thống, khi xuất hiện những thành tố mới thì cấu trúc của hệ thống sẽ thay đổi. Những thành tố mới xuất hiện trong bộ máy chính quyền là: Mạng máy tính và truyền thông đóng vai trò hạ tầng kỹ thuật, hệ thống CSDL là nguồn tài nguyên thông tin, hệ thống các ứng dụng là phương tiện làm việc. Ngoài ra, còn có các quy trình, quy phạm mới quy định về khung pháp lý và những người có kỹ năng làm chủ những yếu tố kỹ thuật này để triển khai những công việc hàng ngày. Như thế, khi triển khai CPĐT cách thức hoạt động của bộ máy chính quyền chắc chắn sẽ thay đổi trên cả 5 phương diện này. 

    Một ví dụ tương tự minh họa. Việc ứng dụng CNTT-TT trong ngành ngần hàng xuất phát từ nhu cầu của khách hàng. Ngày trước, để rút hay chuyển tiền, khách hàng phải đến trực tiếp trụ sở giao dịch. Điều này gây nhiều trở ngại cho khách hàng. Việc cần tạo ra cơ hội cho khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng mọi lúc, mọi nơi trở thành mục tiêu phấn đấu của các ngân hàng. Các điểm giao dịch ATM hay POS kết nối với mạng máy tính của các ngân hàng trở thành công cụ tiện lợi phục vụ khách hàng. Như thế, các yếu tố CNTT-TT đã thẩm thấu vào hoạt động của ngân hàng và tạo ra những quy trình mới đầy hiệu quả.

    Việc triển khai CPĐT hay ứng dụng CNTT-TT vào hoạt động của bộ máy chính quyền cũng sẽ tạo ra những quy trình mới tương tự như thế. Việc xây dựng, chuẩn hoá và pháp lý hoá những quy trình nghiệp vụ (business procedures) này đóng vai trò quyết định sự thành bại của việc triển khai CPĐT. Cách thức mà các quy trình này được xây dựng, chuẩn hoá và pháp lý hoá quyết định đến thời gian thực hiện và chất lượng của các quy trình này. Có những quy trình mới được tạo ra trên cơ sở nâng cấp, biến đổi các quy trình cũ, bổ sung thêm các yếu tố CNTT-TT (như cấp phép đầu tư, xây dựng…) và cũng có những quy trình hoàn toàn mới (như khai sinh, khai tử, cấp CMND điện tử…) thay thế các quy trình cũ. 

    Ở Việt Nam, mọi quá trình đều diễn ra trong trạng thái đang phát triển, trong đó gồm các quy trình nghiệp vụ QLNN. Vì còn thay đổi nên những quy trình này chủ yếu được điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật (nghị định, quyết định, thông tư,…). Chỉ khi chuẩn hoá và hoàn thiện thì các quy trình nghiệp vụ này mới được quy định bằng các bộ luật.

    ID: B1008_42