• Thứ Hai, 27/12/2010 16:40 (GMT+7)

    Đi tìm “triết lý” của tin học hóa

    Vũ Nga
    Cụm bài “Địa phương mạnh về CNTT” (TGVT tháng 8/2010) đề cập đến vai trò của người lãnh đạo trong các dự án tin học hóa (THH) hành chính. Liệu vai trò đó có phải là yếu tố quyết định sự thành/bại của dự án THH hành chính? Ông Nguyễn Tử Quảng, Tổng giám đốc Công ty BKAV đã mang đến một góc nhìn khác về vấn đề này.

    Học kinh nghiệm “dân vận”

    Hồi những năm 1995-1998 Việt Nam triển khai Chương trình Quốc gia về CNTT và nội dung được nhắc đến nhiều nhất là THH hành chính. Chương trình đã thu hút rất nhiều chuyên gia nhiệt huyết với nhiều nỗ lực, nhưng kết quả đã không như mong đợi. Lúc đó, tuy không tham gia nhưng vì niềm đam mê với CNTT, tôi quan sát rất kỹ mọi hoạt động liên quan đến Chương trình này và tự trăn trở...

    Những trăn trở còn theo tôi suốt đến đầu những năm 2000, khi bắt đầu đề án 112. Quan sát cách vận hành của 112 trong những ngày đầu, tôi nhận thấy các bài học cũ đã không được rút ra, nguy cơ không thành công là rõ ràng.

    “Với THH, cần phải có “triết lý”! Triển khai dự án CNTT không chỉ có công nghệ mà vấn đề xã hội chiếm đến một nửa, nó liên quan đến việc thay đổi thói quen của con người trong cả một hệ thống”, Nguyễn Tử Quảng.

    Trong thời gian này, tình cờ tôi được đọc bài viết “Bác Hồ làm dân vận ở Thái Lan”, bài viết này đã giúp tôi củng cố thêm “triết lý” về THH của mình. Sau đó tôi gửi đến TGVT B một bài viết (đăng trên TGVT B tháng 11/2003) nhan đề “Hiệu quả ứng dụng CNTT: Tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Bài viết đề cập rằng khi thất bại, người triển khai dự án CNTT thường trách cứ người dùng, trách lãnh đạo của cơ quan thiếu quyết tâm, thay vì trách chính mình. Trong khi đó, để thành công, điều quyết định là người triển khai dự án phải có những biện pháp “dân vận” để “lôi kéo” người dùng tích cực ứng dụng CNTT. Cần giác ngộ, lôi kéo họ bằng những thứ họ cần, một tính năng tiện ích, một công cụ dễ dùng… thay vì ép họ sử dụng phần mềm (PM) một cách duy ý chí khi mà họ chưa nhận thức được sự hữu ích của nó.

    Khi đã “giác ngộ” được người dùng, việc triển khai các ứng dụng CPĐT sẽ trở nên đơn giản vì được sự đồng tâm hiệp lực của tất cả mọi người.

    Dùng thực tế để chứng minh

    Từ “triết lý” đó, tôi đưa ra mô hình kiến trúc CPĐT trong giải pháp Bkav eGov. Kiến trúc này không phức tạp, gồm 5 tầng. Bắt đầu từ hạ tầng truyền thông, điều hành tác nghiệp trong nội bộ các cơ quan, sau đó kết nối liên thông, tiếp đến là cung cấp các dịch vụ công và cuối cùng là cung cấp giao diện tương tác với người dân thông qua Cổng thông tin điện tử (Portal). Nhưng quan trọng nhất là tầng thứ 2, tại đây phải làm bằng được việc giác ngộ, lôi kéo người sử dụng vào hệ thống. Nếu tầng này không thành công thì chắc chắn dự án sẽ thất bại.

    Các dự án, đề án trước đây không đi đến thành công chính là vì chưa làm tốt khâu này mà đã tập trung quá nhiều cho các tầng khác, ví dụ, xây dựng portal. Tất nhiên, vẫn có thể xây dựng portal bất kỳ lúc nào, nhưng nó chỉ nên ở cấp độ đơn giản như một website, đến khi thực hiện xong các tầng từ 1 đến 4 mới nên tập trung cho nó. Giải pháp Bkav eGov của Bkav đã được thực hiện trong 7 năm và xuyên suốt theo mô hình kiến trúc này, đến nay đã được triển khai thành công tại 18 tỉnh, thành trên toàn quốc. (xem hình)

    Tin học hóa và cải cách hành chính

    Có nhiều ý kiến cho rằng các thủ tục hành chính chưa ổn định tại Việt Nam khiến việc xây dựng CPĐT gặp khó khăn. Tuy nhiên, theo tôi, không nên coi “thủ tục hành chính ổn định” là điều kiện để triển khai CPĐT thành công. Vấn đề là giải pháp CNTT khi áp dụng phải đáp ứng được sự thay đổi của quy trình, thủ tục hành chính trong thời gian ngắn nhất có thể. “Tiên trách kỷ hậu trách nhân”, thay vì trách bộ phận hành chính mỗi khi họ thay đổi quy trình, ta phải trách PM không đáp ứng được với sự thay đổi quy trình đó. PM phải được thiết kế để đáp ứng được điều này!

    Cần xem thủ tục hành chính thay đổi là một điều hiển nhiên, là sự vận động tất yếu của xã hội. Thậm chí, với tiêu chuẩn ISO, việc rà soát, xem xét lại các quy trình sau một thời gian vận hành còn là một yêu cầu bắt buộc để đánh giá xem các quy trình đã hợp lý chưa, có cần phải thay đổi gì không. Đó là quy luật của sự vận động.

    Nhiều người vẫn băn khoăn là nên THH trước hay cải cách hành chính (CCHC) trước? Đây là hai quá trình tương hỗ, phải thực hiện song song. THH có tác dụng giúp thúc đẩy CCHC (như rút ngắn quy trình, thủ tục…) và ngược lại, từ thực tế vận động của thủ tục hành chính, PM sẽ được cấu hình, điều chỉnh để hiệu quả hơn.

    Ví dụ, khi chúng tôi triển khai giải pháp Bkav eGov tại Sở Nội vụ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ngay sau khi áp dụng các quy trình xử lý nghiệp vụ hiện tại của Sở lên hệ thống, các nhân viên và lãnh đạo Sở thấy rằng khi THH, một số bước trong quy trình có thể được cắt bỏ để đơn giản hơn, lãnh đạo Sở đã quyết định điều chỉnh và cấu hình luôn trên hệ thống PM. Như vậy là THH đã giúp thúc đẩy quá trình CCHC, giúp cơ quan hành chính nhận ra họ có thể cải cách các quy trình như thế nào..

    ID: B1010_34