• Thứ Bảy, 26/02/2011 13:15 (GMT+7)

    Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cần pháp nhân để hoạt động hiệu quả

    Quỳnh Anh
    Tổng kết chương trình thử nghiệm phát triển “Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ giai đọan 2007 – 2010” của sở KHCN TP.HCM cho thấy, các vươn ươm hoạt động chưa hiệu quả là bởi nhiều rào cản như chưa có pháp nhân; kế hoạch kinh doanh, vốn đầu tư…

    Bà Trương Thùy Trang (ngồi) đại diện sở KHCN TP.HCM và đại diện các trường, viện, khu công nghệ, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ... chụp hình lưu niệm tại Hội nghị Tổng kết Chương trình Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ giai đọan 2007 - 2010, diễn ra ngày 22/2/2011. Theo bà Trang, mỗi vườn ươm cần có nét đặc trưng riêng, lợi thế riêng để thu hút nhà đầu tư, thu hút doanh nghiệp vào ươm tạo...
    Hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế...

    Thạc sỹ Đỗ Nam Trung, Phó trưởng Phòng Quản lý Công nghệ, Sở KHCN TP.HCM cho biết, nhằm hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố, sở đã triển khai chương trình thử nghiệm phát triển vườn ươm doanh nghiệp công nghệ, với mục tiêu: hình thành vườn ươm công nghệ là một công cụ liên kết giữa KHCN và họat động thương mại, giúp DN KHCN vượt qua những khó khăn khi khởi nghiệp dựa trên cơ sở áp dụng công nghệ mới; giúp trường – viện định hướng nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học; và giúp tạo lập các yếu tố cho hoạt động của thị trường công nghệ (sản phẩm công nghệ, phía cung, phía cầu, phía trung gian, tư vấn, thông tin KHCN…).

    Theo đó, giai đoạn 2007 – 2010 là giai đoạn thử nghiệm và hoàn thiện mô hình ươm tạo DNCN; Phát triển mạng lưới vườn ươm doanh nghiệp công nghệ trên địa bàn TP.HCM (tập trung vào các trường đại học kỹ thuật); hỗ trợ và tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới khởi nghiệp thuộc các ngành công nghiệp ưu tiên của thành phố tham gia vào các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ; hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu và mạng lưới các chuyên gia, tổ chức tư vấn và tổ chức tài chính nhằm hỗ trợ cho họat động của các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ; bồi dưỡng, đào tạo và chuyển hóa kỹ năng quản lý doanh nghiệp công nghệ cho các tổ chức/cá nhân trong và ngoài vườn ươm doanh nghiệp công nghệ.

    Đến nay, Sở KHCN đã hợp tác và hỗ trợ trường ĐH Nông Lâm, trường ĐH Bách Khoa - ĐH Quốc gia, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao và các đơn vị có liên quan hình thành 3 mô hình vườn ươm doanh nghiệp công nghệ với các hệ thống hỗ trợ tư vấn, kỹ thuật và dịch vụ đi kèm. Mỗi vườn ươm đều có 5 doanh nghiệp đang ở giai đọan đầu của quá trình ươm tạo; đến nay đã hình thành 15 doanh nghiệp mới với tổng số lao động trên 50 người. Dự kiến trong thời gian tới, mỗi vườn ươm sẽ xét tuyển 2 đến 3 doanh nghiệp mới hàng năm…
     

    Theo đó, nhìn chung, các vườn ươm đều đã thiếp lập hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng và trang thiết bị văn phòng, hệ thống thông tin liên lạc (phần cứng); bước đầu hình thành cơ cấu tổ chức và mạng lưới đối tác cung ứng dụng vụ (phần mềm) cho họat động ươm tạo doanh nghiệp.

    Các doanh nghiệp đang được ươm tạo đều tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của thành phố như: công nghệ thông tin, cơ khí nông nghiệp, cơ điện tử, năng lượng, nhiên liệu sinh học, chế phần sinh học, phân bón vi sinh, nông nghiệp công nghệ cao…

    Các vườn ươm đã có nhiều họat động liên kế (đào tạo, tư vấn, xúc tiến đầu vào…) và tham gia giao lưu chia sẻ kinh nghiệm tổ chức và điều hành của các vườn ươm khác trong và ngoài nước; đồng thời thỏa thuận hợp tác với các tổ chức khác nhau (Asia Pacifc Incubators (APIN), InWent, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức KHCN, tổ chức tài chính, trung tâm tư vấn…) nhằm xác định mạng lưới các dịch vụ hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp… 

    Ông Trần Tuấn Anh (đứng), Giám đốc Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao, Khu công nghệ cao TP.HCM chia sẻ về quá trình hình thành và hoạt động của Vườn ươm Khu công nghệ cao. Theo ông Tuấn Anh, các Vườn ươm nên chăng khảo sát nhu cầu của doanh nghiệp xem họ cần Vườn ươm hỗ trợ gì?; Chọn lọc những việc quan trọng để tập trung thực hiện trước...
    Nên khảo sát nhu cầu doanh nghiệp

    Thạc sỹ Trung nhìn nhận, Ngoài những mặt đạt được trên, hiện VƯ còn gặp phải một số khó khăn, rào cản khiến hoạt động chưa mạnh.

    Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ và thương hiệu "vườn ươm doanh nghiệp công nghệ" vẫn còn mới ở Việt Nam. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ quản lý chưa có nhiều kinh nghiệm; công tác tuyên truyền quảng bá chưa đi vào chiều sâu nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của vườn ươm doanh nghiệp công nghệ đối với các nhà khoa học, giới doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước… khiến cho sự phối hợp giữa các bên có liên quan còn rời rạc, chưa đồng bộ.

    Tuy khá hoàn thiện về mặt chiến lược họat động, địa điểm, hạ tầng cơ sở, lĩnh vực ươm tạo, một số vườn ươm còn chậm hình thành pháp nhân, bộ máy và cơ chế điều hành, tiêu chí xét tuyển và tốt nghiệp, trùng lắp họat động giữa các vườn ươm…

    Các kế hoạch kinh doanh của vườn ươm chưa được điều chỉnh, bổ sung theo thực tế triển khai; chưa có đủ mạng lưới chuyên gia và dịch vụ chuyên nghiệp trong nước nhằm phục vụ công tác ươm tạo; các dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp còn ở mức cơ bản.

    Nguồn tài chính đầu tư hiện nay cho các vườn ươm (chủ yếu từ trường đại học, ngân sách nhà nước) còn hạn chế và mang tính chất thử nghiệm. Các quỹ đầu tư và Tập đoàn lớn chưa quan tâm nhiều.

    Tiến độ triển khai vườn ươm doanh nghiệp công nghệ tại các trường đại học thường chậm so với kế họach vì: cán bộ kiêm nhiệm nhiều, thời gian dành cho họat động của vườn ươm còn hạn chế, mức lương thấp khiến khó tìm được cán bộ quản lý vườn ươm chuyên nghiệp; chất lượng doanh nghiệp đầu vào còn hạn chế, doanh nghiệp chuẩn bị kế họach kinh doanh chưa hoàn chỉnh, mang tính lý thuyết.

    Đặc biệt là vấn đề pháp lý và thỏa thuận chuyển giao công nghệ từ trường đến doanh nghiệp chưa được chuẩn bị kỹ trước khi doanh nghiệp xây dựng kế họach kinh doanh, kỹ năng quản lý vườn ươm theo mô hình doanh nghiệp (nhưng phi lợi nhuận), thiếu mạng lưới chuyên gia thường trực để hỗ trợ tư vấn và tạo sự tin tưởng cho doanh nghiệp; hệ thống hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật (Phòng thí nghiệm, mặt bằng sản xuất thử nghiệm…) của các trường đại học còn chưa đáp ứng hết nhu cầu của doanh nghiệp.

    Thực tế cho thấy, thời gian dành cho thủ tục thành lập, hình thành cơ cấu tổ chức của vườn ươm, xét tuyển DN và họat động “chuẩn bị ươm tạo” thường bị kéo dài (từ 1 đến 2 năm) khiến quá trình “ươm tạo chính thức”, “xét chọn tốt nghiệp” và “hỗ trợ sau ươm tạo” không đủ thời gian triển khai theo như kế hoạch ươm tạo 3 năm…

    Giám đốc Vườn ươm doanh nghiệp phần mềm Quang Trung (áo sẫm) cho biết, 90% doanh nghiệp được ươm tạo tại Vườn ươm Quang Trung khi tốt nghiệp ra khỏi vườn ươm đều thành công. Sở dĩ có được kết quả này là khi tuyển đầu vào Vườn ươm Quang Trung chọn rất khắt khe. Mặt khác, vườn ươm tại đây do được đầu tư từ nước ngoài, được trang bị cơ sở hạ tầng đầy đủ điện, nước, trang thiết bị, máy tính, phòng làm việc, hội họp... Doanh nghiệp đến đây được hỗ trợ tối đa các điều kiện về pháp lý, thủ tục, xây dựng kế họach...
    Tiếp tục thử nghiệm đến 2013…

    Theo Thạc sĩ Trung, UBND TP.HCM cần cho phép tiếp tục triển khai thử nghiệm vườn ươm đến năm 2013. Các bộ ngành liên quan cần nhanh chóng đưa Chuơng trình vườn ươm doanh nghiệp công nghệ vào kế hoạch kinh phí KHCN hàng năm, làm nền tảng hỗ trợ phát triển vườn ươm, đa dạng hóa các kênh hỗ trợ tài chính và xây dựng cơ chế thực thi.

    Bên cạnh đó, cần thường xuyên tổ chức đào tạo tinh thần kinh doanh, khởi nghiệp, định hướng thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu và sinh viên, đặc biệt là hướng dẫn tích hợp với chuyển giao công nghệ, tài sản trí tuê với xây dựng kế họach kinh doanh. Tổ chức các cuộc thi giới thiệu kế hoạch kinh doanh, bố trí các buổi tiếp xúc giữa doanh nghiệp  - vườn ươm - nhà nghiên cứu và nhà đầu tư để chia sẻ các ý tưởng kinh doanh khả thi, tìm kiếm cơ hội đầu tư...

    Cần có các chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài, xúc tiến chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ và có cơ chế lương hợp lý nhằm thu hút chuyên gia giỏi tham gia quản lý vườn ươm…

    Bà Trương Thùy Trang, Phó Giám đốc sở KHCN TP.HCM cho biết, kế hoạch họat động vườn ươm giai đoạn 2011 đến 2015, cụ thể, năm 2011 sẽ hoàn chỉnh pháp nhân (có con dấu và tài khoản riêng) và ổn định cơ cấu tổ chức, bộ máy nhân sự điều hành cho các vườn ươm; điều chỉnh kế họach kinh doanh phù hợp với điều kiện thực tiễn.

    Năm 2012, làm việc với các bộ ngành và UBND TP.HCM nhằm hoàn thiện khung pháp lý và thống nhất thực thi đồng bộ các chính sách ưu đãi phát triển vườn ươm doanh nghiệp công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp đang ươm tạo. Đồng thời hoàn thiện và liên tục mở rộng mạng lưới chuyên gia, đối tác trong và ngoài nước cả về số lượng và chất lượng nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho doanh nghiệp…

    Năm 2013 tiếp tục thử nghiệm và chọn lựa mô hình ươm tạo doanh nghiệp công nghệ (giai đọan ươm tạo chính thức và giai đọan sau ươm tạo); mở rộng quy mô (mặt bằng sản xuất thử nghiệm) và trang bị hỗ trợ (phòng thí nghiệm liên kết)...