• Thứ Ba, 05/07/2011 10:11 (GMT+7)

    Thúc đẩy dịch vụ công: Cần có khung kiến trúc ứng dụng

    Nguyễn Tuấn Hoa
    Kiến trúc ứng dụng được xây dựng để xác định các tiêu chuẩn và các kỹ thuật áp dụng thống nhất trong thiết kế ứng dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước.
     

    Trong quá trình hiện đại hoá quản lý, các quy trình nghiệp vụ thường xuyên được đổi mới (quen gọi là “cải cách thủ tục hành chính”). Vì vậy, các ứng dụng cần được thiết kế sao cho có thể hiệu chỉnh được dễ dàng nhằm đáp ứng nhanh chóng các thay đổi về quy trình nghiệp vụ. Kiến trúc ứng dụng cũng cần có khả năng “hấp thụ” các công cụ và kỹ thuật phát triển ứng dụng mới để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đặt ra mà các công cụ ấy lại thường xuyên xuất hiện và hoàn thiện.

    Thiết kế và phát triển các ứng dụng

    Mọi ứng dụng máy tính, bất kể chúng sử dụng cho mục đích gì và triển khai bằng công nghệ nào thì đều tập trung vào 3 nội dung giải quyết vấn đề cơ bản sau:

    1. Giao diện cho phép các ứng dụng giao tiếp với người sử dụng cũng như với các ứng dụng và nguồn dữ liệu khác. Trong mô hình nhiều tầng, những thay đổi ứng dụng về nghiệp vụ thường không đòi hỏi phải có những thay đổi về mã nguồn ở phần giao diện. Giao diện cần được cập nhật vì những lý do khác, chẳng hạn như, hệ thống máy tính khác tương tác với ứng dụng đó có sự thay đổi hoặc khi người sử dụng có nhu cầu sử dụng giao diện đồ hoạ thay vì giao diện dựa trên ký tự. Vì các ứng dụng tương tác với con người nên giao diện người dùng nhận được sự chú ý nhiều nhất.

    2. Các quy tắc nghiệp vụ là cái cốt lõi của các quy trình nghiệp vụ mà các cơ quan quản lý nhà nước đang thực hiện. Người ta dựa vào các quy tắc nghiệp vụ mà thực hiện tự động hóa quy trình, xác định cần phải làm gì và làm như thế nào. Khi các quy trình nghiệp vụ của tổ chức thay đổi, các quy tắc nghiệp vụ trong tổ chức đó cũng thay đổi theo và như thế, ứng dụng phải được điều chỉnh lại. Một kiến trúc ứng dụng được xây dựng tốt sẽ giúp cho việc điều chỉnh này trở nên dễ dàng và hiệu quả nhất. Ngày nay người ta không viết mã nguồn cho từng ứng dụng cụ thể mà cho cả một lớp ứng dụng nên hiệu quả phát triển các ứng dụng rất cao.

    3. Các mã truy cập dữ liệu là chỗ dựa để thực hiện tự động hóa việc lưu trữ, tìm kiếm và khôi phục lại dữ liệu bởi các ứng dụng máy tính. Trong các ứng dụng nhiều tầng, những thay đổi trong quy tắc nghiệp vụ thường không yêu cầu thay đổi mã truy cập dữ liệu dù thỉnh thoảng việc này vẫn xảy ra.

    Việc triển khai chương trình chính phủ điện tử phải luôn lấy người dân làm trung tâm, do vậy cần nghiên cứu đáp ứng nhu cầu người dân, từ giao diện người dùng đến khả năng cung cấp thông tin hành chính đa kênh (gồm cả giao dịch qua điện thoại di động).
    Phân loại các ứng dụng

    Mặc dù các ứng dụng hướng tới phục vụ người dùng cuối (người dân, doanh nghiệp và cán bộ công chức trong bộ máy chính quyền), đóng vai trò chính trong kiến trúc ứng dụng nhưng chúng không thể tách rời các loại ứng dụng khác vừa làm nền để phát triển chúng, vừa hỗ trợ để chúng phát huy tốt nhất hiệu quả hoạt động của mình.

    Trong trường hợp tổng quát, kiến trúc ứng dụng bao gồm 7 loại ứng dụng:

    1. Các ứng dụng Desktop: Là những ứng dụng cần được cài đặt vào từng máy tính để tương tác với các ứng dụng hoặc cổng thông tin điện tử của địa phương. Ví dụ: hệ điều hành, trình duyệt, bộ phần mềm ứng dụng văn phòng, phần mềm đọc tài liệu, phần mềm quét ảnh, v.v...

    2. Các ứng dụng giao dịch với khách hàng: Gồm các ứng dụng thực hiện việc “giao tiếp với người dân”. Các ứng dụng này cung cấp các chức năng và dữ liệu cần thiết, hỗ trợ hiệu quả cho người dân giao tiếp với các cơ quan chính quyền khi sử dụng các dịch vụ công do chính quyền cung cấp. Các ứng dụng điển hình bao gồm hệ thống quản lý quan hệ khách hàng, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng... Các ứng dụng giao tiếp trực tiếp với khách hàng chuyên ngành bao gồm ứng dụng về bảo vệ môi trường, dịch vụ xã hội, quy hoạch đô thị...

    3. Các ứng dụng nghiệp vụ nội bộ: Các ứng dụng này được các cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để thực hiện công việc của họ. Đặc tính tiêu biểu nhất của những ứng dụng này là phải phân quyền cho người dùng và kiểm soát truy cập. Những ứng dụng này được phân chia thành hai loại sau:

    • Các ứng dụng dùng chung: Một số ứng dụng cụ thể có nhiều đặc điểm chung và được sử dụng tại hầu hết hoặc đa số các sở, ban, ngành. Ví dụ như quản lý văn thư, hồ sơ đi đến, thư điện tử… Những ứng dụng này có thể được xây dựng theo mô hình chia sẻ vì nó được sử dụng tại tất cả các sở, ban, ngành.

    Theo truyền thống, con người tương tác với những ứng dụng máy tính bằng cách sử dụng giao diện ký tự trên các thiết bị đầu cuối hay các giao diện đồ hoạ (ví dụ như Microsoft Windows). Gần đây đã có những giao diện mới như điện thoại tương tác, trình duyệt web và các thiết bị không dây được giới thiệu.
    • Các ứng dụng riêng của từng sở, ban, ngành: Mỗi sở, ban, ngành đều có chức năng và quy trình nghiệp vụ riêng. Do vậy các ứng dụng chuyên biệt cho từng cơ quan cụ thể được phân nhóm vào loại này. Ví dụ quản lý đất đai, quản lý hộ tịch, quản lý giáo dục…

    4. Các ứng dụng hệ thống: Các ứng dụng này liên quan đến việc kiểm soát và giám sát quy trình kỹ thuật và các thủ tục bảo đảm tính nhất quán của dữ liệu và tính sẵn sàng của hệ thống. Các công việc liên quan đến các vấn đề như khởi động hệ thống, tắt hệ thống, giám sát các cảnh báo và tính sẵn sàng của hệ thống, cập nhật các phiên bản phần mềm, sao lưu, phân tích và báo cáo hiệu suất hoạt động, các báo cáo quản trị hệ thống… Các ứng dụng hệ thống được yêu cầu phải chạy ở chế độ nền để hỗ trợ các ứng dụng khác về bản chất là khá phức tạp và đòi hỏi phải đặc biệt chú ý.

     

     
    Mô hình TP. Đà Nẵng đang sử dụng

    5. Các ứng dụng hệ thống thông tin quản lý: Các ứng dụng này giám sát hoạt động của hệ thống thông tin CPĐT, xác định các “điểm nóng” trong hệ thống (những dịch vụ được truy cập, giao dịch nhiều nhất, những kênh thông tin có lưu lượng cao nhất, những vấn đề/lĩnh vực người dân quan tâm nhất…), thống kê tần suất truy cập và từng ứng dụng chuyên ngành, hiệu suất hoạt động của các cơ quan chức năng (thông qua khối lượng hồ sơ được xử lý đúng hạn, mức độ đáp ứng yêu cầu của người dân…). Đây là những thông tin rất quan trọng phục vụ và hỗ trợ cho quá trình ra quyết định phát triển hệ thống.

    6. Các ứng dụng bảo vệ an toàn: Đây là ứng dụng cốt lõi trong quản lý đăng ký xác thực và cấp phép cho người dân truy cập vào các ứng dụng hệ thống và dữ liệu. Ứng dụng này cung cấp một cơ chế quản lý tập trung về quyền truy cập của người sử dụng trong toàn tổ chức. Ứng dụng này cũng giúp bảo vệ dữ liệu hoặc thông tin khỏi sự tấn công hoặc đe dọa của các tác nhân từ môi trường bên ngoài.
    7. Các ứng dụng mạng: Các ứng dụng quản trị mạng đảm bảo về tính sẵn sàng của tất cả các ứng dụng trong hệ thống mạng. Những ứng dụng này có khả năng quản lý lưu lượng dữ liệu và các kết nối cho các dịch vụ được cung cấp.

     

    Thay lời kết

    Chúng ta vẫn nói CNTT là động lực phát triển kinh tế xã hội. Trong CNTT, cái tạo ra động lực đó chính là các ứng dụng, đặc biệt là các ứng dụng nghiệp vụ. CNTT tác động lên quy trình nghiệp vụ của mọi tổ chức, làm thay đổi các quy trình đó theo hướng nhanh hơn, hiệu quả hơn và từ đó tạo ra sự phát triển mạnh mẽ hơn nhiều so với trước đây. Kiến trúc ứng dụng diễn đạt cách mà các ứng dụng được phát triển và quan hệ, tương tác với nhau trong hệ thống. Một kiến trúc ứng dụng hài hoà, chặt chẽ sẽ là chỗ dựa tin cậy để phát triển hệ thống các ứng dụng – phương tiện tạo ra động lực phát triển xã hội.

    Một số ví dụ của từng loại ứng dụng:

     

    ID: B1105_30