• Thứ Bảy, 05/11/2011 10:33 (GMT+7)

    “Hiện đại hoá” vùng ĐBSCL

    Nguyễn Tuấn Hoa - Bùi Quốc Nghĩa
    Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 12 tỉnh (Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, An Giang và Kiên Giang) và thành phố Cần Thơ. Toàn vùng có diện tích 40.518,5 km2 đất, dân số 17,22 triệu người (chiếm 12% và 21,75 % cả nước).

    Kinh tế biển

    Vùng ngoài biển: Thềm lục địa ở ĐBSCL nông hơn so với các nơi khác nên thuận tiện cho khai thác tài nguyên đáy biển. Các mỏ dầu nhộn nhịp nhất nước là Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu đều nằm ở đây. Tầng nước của vùng có sự tuôn trào của dòng Mekong, tạo nguồn thức ăn phong phú cho các loài thủy sinh. Nguồn lợi thủy sản lớn nhất nước với trữ lượng cá biển ~2.558.000 tấn, chiếm 62% cả nước. Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản đang là ngành kinh tế quan trọng, xuất khẩu thủy sản luôn chiếm hơn 50% cả nước...

     

    Vùng biển ĐBSCL còn kề cận các luồng vận tải quốc tế tấp nập nhất: Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất khẩu của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển ĐBSCL có một vị thế trọng yếu. Quần đảo Trường Sa, Côn Sơn và Phú Quốc - Thổ Chu đóng vai trò chiến lược về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.

    Tiềm năng trên là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của kinh tế vùng biển của ĐBSCL, từ khai thác tài nguyên, khoáng sản dưới đáy biển, khai thác các tầng nước biển, khai thác mặt nước, khai thác các đảo và bầu trời trong vùng lãnh hải Việt Nam. Tiềm năng phát triển du lịch biển - đảo là rất lớn. Du lịch không chỉ là ngành kinh tế mà còn thể hiện sự hiện diện, bằng chứng rõ ràng và thuyết phục nhất về chủ quyền quốc gia.

    Vùng ven bờ: ĐBSCL có 22 cửa sông, lạch và hơn 800.000 ha bãi triều thuận lợi cho phát triển công nghiệp kinh tế biển. Thế giới ít nơi có mạng lưới giao thông thủy tỏa ra biển dầy đặc và đặc sắc như nơi đây. Ở các nước tiên tiến, tính theo diện tích thì vùng ven bờ là nơi có điều kiện tạo ra nhiều giá trị của cải nhất đóng góp vào GDP (ở Mỹ, vùng ven cách bờ 10 km chiếm 4% diện tích cả nước nhưng tạo ra 11% GDP). Vùng ven bờ ĐBSCL là nơi đủ điều kiện hình thành chuỗi các đô thị kinh tế - sinh thái phát triển bền vững.

    Vùng duyên hải: Hồ sơ lâu nay chỉ mới xếp 7 tỉnh có biển là Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang vào vùng duyên hải ĐBSCL. Nhưng theo định nghĩa mà nhiều nước áp dụng thì duyên hải là miền dải đất ven biển có chiều rộng 100 km tính từ bờ biển, tức là gần như toàn bộ ĐBSCL. Đây là vùng phát triển chủ lực của kinh tế biển, trực tiếp sản xuất hàng hóa và cung ứng mọi dịch vụ cho phát triển kinh tế ven biển và ngoài biển (ở Mỹ, vùng duyên hải tạo ra đến 83% GDP cả nước). Trong tương lai, chuỗi các đô thị kinh tế - sinh thái sẽ hình thành dọc bờ biển ĐBSCL.

    Biến đổi khí hậu - nước biển dâng: Biển cũng tiềm ẩn những nguy cơ lớn. Biến đổi khí hậu - nước biển dâng sẽ là một thảm hoạ. Giải pháp xây dựng đê biển Vũng Tàu – Hà Tiên gắn với xa lộ dọc bờ biển và phát triển diện tích rừng ngập mặn ven biển ĐBSCL là những giải pháp ứng phó tích cực nhất đã được Nhà nước phê duyệt. Những đánh giá tích cực nhất khẳng định kinh tế biển sẽ làm thay đổi hoàn toàn tầm vóc về mọi mặt của ĐBSCL. Kinh tế biển sẽ đóng góp đến trên 80% GDP của cả vùng này khi các hoạt động kinh tế ở cả 3 vùng nêu trên được phát động mạnh mẽ.

    Kinh tế Mekong

    Khi xây dựng được tất cả các CSDL và hệ thống thông tin cơ bản, bài toán hiện đại hóa ĐBSCL sẽ trở nên sáng sủa. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế biển và kinh tế Mekong, tạo nên một mô hình độc đáo có sức phát triển mạnh mẽ và bền vững ở vị trí trung tâm của châu Á – Thái Bình Dương.

    Từ xưa đến nay, sông Mekong luôn luôn là yếu tố chính tác động lên ĐBSCL, làm nên bản sắc toàn vùng này. Đây là vùng nông nghiệp phát triển nhất nước. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nông nghiệp ở ĐBSCL mới chỉ tập trung khai thác những cơ hội mà dòng sông Mekong mang lại (trồng lúa và đánh bắt thủy sản). Sự khai thác quá mức và thiếu khoa học dần dần làm giảm sút năng suất và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp.

    Những thế mạnh khác của kinh tế Mekong, trong đó có sự liên kết phát triển giao thương giữa 6 nước sở hữu chung dòng Mekong còn rất sơ khai. Tuy nhiên với tác động của kinh tế biển, kinh tế Mekong chắc chắn khởi phát và nhiều cơ hội sẽ đến. Mặt khác, Mekong mang lại cho ĐBSCL nhiều ân huệ, nhưng cũng thường trực những nguy cơ. Hệ thống các đập thủy điện chắn nước ở phía thượng lưu vừa làm suy kiệt các loài thủy sinh vừa “treo” nguy cơ ngập lụt khủng khiếp cho vùng hạ lưu.

    Hướng “Hiện đại hóa”

    Phát triển trung tâm an ninh lương thực quốc tế: ĐBSCL là vựa lúa của cả nước. Từ hơn 20 năm qua, Việt Nam luôn giữ vị trí thứ 2 về xuất khẩu gạo. Theo dự báo của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), do diện tích đất trồng trọt bị thu hẹp và tác động từ biến đổi khí hậu, hàng tỷ người trên thế giới sẽ thiếu ăn. Vấn đề an ninh lương thực được cả thế giới quan tâm. Trong tương lai, các vựa lúa của Việt Nam, Thái Lan… sẽ có một vai trò to lớn hơn nhiều so với hiện nay. Đó sẽ là các trung tâm an ninh lương thực quốc tế.

    Tuy Việt Nam xuất khẩu nhiều lúa gạo nhưng cách tổ chức canh tác lúa và cuộc sống của người nông dân chưa thay đổi nhiều: Vẫn là lối canh tác tiểu nông phụ thuộc vào thiên nhiên. Để vươn lên thành trung tâm an ninh lương thực quốc tế, ngành trồng lúa Việt Nam ở ĐBSCL phải thay đổi: Quy hoạch lại vùng chuyên canh lúa, áp dụng những giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến nhất về giống, quy trình canh tác, thu hoạch, chế biến, bảo quản tiến tới gắn với hệ thống logistics chuyên nghiệp được hỗ trợ bởi các công cụ mạnh như sàn giao dịch gạo quốc tế mang thương hiệu ĐBSCL. 

     

    Toàn bộ hạ tầng, khu dân cư mới hiện đại cùng hệ thống các công trình phụ trợ nghiên cứu, dịch vụ và các ngành đi theo sẽ được phát triển hài hòa, đồng bộ. Số lượng lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm đi, nhưng trình độ canh tác và mức sống – dân trí cao lên xứng tầm là trung tâm an ninh lương thực quốc tế. Số lao động dôi ra sẽ hướng về chuỗi các đô thị ven biển để học tập, làm việc trong các lĩnh vực phát triển ở trình độ cao.

    Vai trò của CNTT

    Có 2 hướng ứng dụng CNTT rất khác nhau: Một là ứng dụng vào những quá trình phát triển KTXH hiện tại nhằm mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn (là hướng phổ biến trong xã hội ta hiện nay). Thứ hai là ứng dụng vào việc phân tích, dự báo các vấn đề vĩ mô mang tính tiềm năng, tương lai dựa trên việc thu thập và xử lý các dữ liệu liên quan. Vai trò của CNTT đi theo hướng thứ hai. Rõ ràng, với 2 yếu tố tác động mạnh mẽ, có tính quyết định “số phận” của ĐBSCL là biển và Mekong, cả theo nghĩa tích cực hoặc ngược lại, thì CNTT vẫn thực sự có chỗ tốt để phát triển.

    Với kinh tế biển: Nội dung tập trung vào xây dựng hệ thống CSDL thềm lục địa vùng ĐBSCL nói chung, về đáy biển và các mỏ dầu, khí, khoáng sản nói riêng, CSDL về các tầng nước với đặc điểm sinh thái riêng từng nơi với các luồng cá và hải sản, CSDL về các đảo trong vùng với dữ liệu chi tiết về diện tích tự nhiên, đặc điểm sinh thái, tiềm năng phát triển…, CSDL về bờ biển từ Long An đến Kiên Giang, chi tiết đến từng cửa sông, lạch, bãi triều… và CSDL về vùng duyên hải theo quan điểm hiện đại (toàn vùng ĐBSCL).

    Tất cả nên nhúng trong một hệ thống thông tin địa lý (GIS) để có thể phản ánh thông tin tích hợp theo nhiều tiêu chí. Ở mức sâu hơn, CNTT phải phục vụ cho việc thiết kế đê biển Vũng Tàu – Kiên Giang kèm theo xa lộ ven biển Tây Nam Bộ, lập bản đồ GIS về nguy cơ nước biển dâng và nước mặn xâm nhập sâu, lan tỏa trên toàn vùng (tính theo chiều cao tăng thêm mỗi 10 cm của mặt nước biển), phục vụ quy hoạch hệ thống sản xuất và dịch vụ ven biển cũng như phát triển các đô thị kinh tế - sinh thái hướng biển và những nội dung khác.

    Với kinh tế Mekong: Trọng tâm là xây dựng CSDL về đất phù hợp với chuyên canh lúa nhằm phục vụ quy hoạch phát triển trung tâm an ninh lương thực quốc tế tại ĐBSCL. Đi cùng là CSDL về hạ tầng, hệ thống hành chính – dân cư, hệ thống an sinh xã hội, hệ thống nghiên cứu hỗ trợ, logistics… phục vụ cho việc quy hoạch, phát triển nông thôn mới, hiện đại xứng tầm với vị trí một trung tâm an ninh lương thực quốc tế. 

    Biển và sông Mekong là 2 yếu tố tác động trực tiếp lên vùng .
    CSDL về các diện tích phù hợp với việc trồng cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản để phục vụ quy hoạch phát triển hai ngành này ở trình độ công nghiệp, hiện đại cũng là những nội dung quan trọng cần phát triển. Tất cả nhúng trong hệ thống GIS toàn vùng cùng với dữ liệu chi tiết về các vùng sinh thái đặc trưng của ĐBSCL sẽ cho ta hình ảnh toàn cảnh về sự ảnh hưởng của kinh tế Mekong lên toàn vùng.

    Đáp ứng cho nhu cầu bền vững, CNTT nên đề cập đến việc xây dựng sàn giao dịch gạo quốc tế, (topology) mô tả toàn bộ các luồng vận tải thủy trong vùng và bản đồ GIS về mức nước dâng khi có lũ từ thượng nguồn đổ về, dâng nước ra toàn vùng theo mức tăng mỗi 10 cm của mặt nước.

    ĐBSCL có 2,6 triệu ha đất nông nghiệp, 253.000 ha đất lâm nghiệp, ĐBSCL là vùng sản xuất lương thực và thực phẩm trọng điểm, trong đó lúa gạo chiếm 50% sản lượng cả nước, 90% số lượng XK.

     

    ID: B1110_38