• Thứ Tư, 07/01/2004 15:45 (GMT+7)

    Quản lý bè cá ở An Giang

    Chính phần mềm quản lý đăng ký, đăng kiểm bè cá của Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thuỷ Sản tỉnh An Giang hiện nay sẽ là cơ sở xây dựng phần mềm quản lý thuỷ sản chung cho cả nước sắp tới. Thành quả đó có được nhờ Chi Cục đã năng động ứng dụng CNTT để quản lý nghề nuôi cá bè trên sông.

    Từ mối lo khủng hoảng thừa...

    An Giang được thiên nhiên ưu đãi với hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu chảy qua địa phận, lưu lượng trung bình năm là 13.800 m3/s. Tỉnh còn có 280 tuyến sông rạch và kênh lớn với mật độ 0,72 km/km2 cùng hệ thống ao, hồ... Tất cả tạo nên nguồn lợi thuỷ sản không nhỏ, rất thuận tiện phát triển nghề nuôi cá bè, cá ao hầm, trên chân ruộng. Chính vì vậy, sản lượng cá nuôi của An Giang năm 2002 đạt gần 100.000 tấn, dẫn đầu cả nước; trong đó, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 66 triệu USD, thuộc tốp10 tỉnh xuất khẩu thuỷ sản nhiều nhất nước.

    Tại An Giang nghề nuôi cá bè (cá tra, ba sa) rất phát triển. Số lượng bè cá tại đây liên tục tăng qua các năm. Năm 2000 là 3.086 bè (tăng gần 5 lần so với năm 1990), năm 2001 là 3237 và năm 2002, con số này đạt 4.053. Dự kiến số bè còn tiếp tục tăng trong những năm tới, kéo theo tổng sản lượng thuỷ sản tăng. Tuy nhiên, đó chưa hẳn là tín hiệu vui với những nhà quản lý. Kỹ sư Trần Anh Dũng, trưởng phòng Chất Lượng Thuỷ Sản, Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thuỷ Sản An Giang (gọi tắt là Chi Cục) cho biết: năm 2002, sản lượng thuỷ sản nuôi tại An Giang đạt trên 100.000 tấn, gần gấp đôi tổng công suất 3 xí nghiệp lớn của tỉnh (60.000 tấn/năm) khiến các xí nghiệp bị quá tải. Cộng thêm tình hình xuất khẩu cá sang thị trường Mỹ không thuận lợi như trước, khủng hoảng thừa cá có thể xảy ra. Với đà này, nếu không nhanh chóng kiểm soát số bè nuôi, giá cá thu mua sẽ giảm, rốt cuộc ngư dân sẽ lỗ!

    ... Đến phần mềm quản lý bè cá

    Ngoài số lượng bè, sản lượng cá, Chi Cục cũng cần phải tăng cường kiểm soát các chỉ số như mật độ cá, điều kiện vệ sinh trong bè, mức độ ô nhiễm môi trường... Từ thực tế đó,  Chi Cục bắt đầu tìm tòi hướng quản lý phù hợp. “Đầu 2000, sau một thời gian tìm hiểu, chúng tôi thấy lời giải duy nhất của bài toán quản lý trên 3.000 bè cá sao cho vừa chi tiết vừa tiết kiệm sức người chính là ứng dụng CNTT” - ông Nguyễn Văn Thạnh, chi cục trưởng nhớ lại.

    Lúc ấy, Chi Cục phối hợp với ông Nguyễn Xuân Trí, giảng viên môn tin học của Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên tỉnh An Giang lập phần mềm quản lý đăng ký đăng kiểm toàn bộ bè cá trong tỉnh theo chủ hộ, số lượng, kích thước, nơi neo đậu, ... Phía Chi Cục cung cấp các bản vẽ kỹ thuật về bè, các chỉ tiêu phải quản lý cho Trung Tâm. Sau hơn 4 tháng, phần mềm “Quản lý thuỷ sản” (QLTS) viết trên Visual Foxpro hoàn chỉnh và được đưa vào ứng dụng. Phần mềm được cài vào một máy vi tính đặt tại Chi Cục, do một cán bộ quản lý. Thông tin về bè do 5 cán bộ khác đi thu thập theo mẫu thống nhất̀: chiều cao, chiều dài, sức chở, vật liệu... Những thông tin này sau đó được nhập vào máy, trở thành cơ sở dữ liệu (CSDL) của phần mềm QLTS. Hàng năm CSDL này đều được cập nhật: thay đổi kích thước bè, đổi chủ... Đến nay, trong CSDL của QLTS đã có 4.150 bè cá và trên 200 ghe đục (công cụ vận chuyển cá sống) của ngư dân trong tỉnh.

    Từ đó, mỗi khi Chi Cục phát hiện thấy bè vi phạm (nơi neo đậu, gây ô nhiễm môi trường, ...), chỉ cần truy tìm trên phần mềm theo  tên chủ bè hoặc số hiệu bè là có thể tìm thấy đầy đủ thông tin về đối tượng  để xử lý kịp thời. CSDL còn lưu cả hình ảnh bè vào thời điểm hình thành để kiểm soát trường hợp chủ bè thay đổi kết cấu hay đổi chủ trái phép.

    Phần mềm QLTS còn giúp Chi Cục xây dựng bản đồ hiện trạng toạ độ neo đậu bè theo yêu cầu của UBND tỉnh. Chi Cục dùng thiết bị định vị chuyên dụng, chuyển tọa độ bè vào máy tính, sau đó dùng phần mềm QLTS kết xuất các báo cáo chi tiết.

    “Đăng kiểm bè là công tác rất cần thiết” - ông Thạnh, chi cục trưởng cho biết - “bè là phương tiện kéo đi được, nếu không quản lý đăng kiểm chặt chẽ, có thể một bè sẽ có hai giấy chủ quyền tại hai huyện. Tác hại là người chủ có thể đem thế chấp ở hai ngân hàng khác nhau để vay vốn”.

    “Nhưng tác dụng lớn nhất của phần mềm là giúp tỉnh kiểm soát số lượng bè, sản lượng cá nuôi” - kỹ sư Dũng, quản lý chung hệ thống thông tin của Chi Cục, hồ hởi cho biết. Với phần mềm QLTS có thể tính ước chừng sản lượng mỗi bè dựa trên kích cỡ bè và năng suất bình quân,  do đó ước tính được sản lượng cá nuôi của tỉnh, từ đó có kế hoạch hạn chế hay khuyến khích lập bè mới. “Chẳng hạn năm 2001, xuất khẩu cá tra, ba sa ổn định nên Chi Cục cho phép lập bè cá mới khá nhiều. Nhưng hiện nay, Mỹ áp dụng thuế nhập khẩu cá từ Việt Nam từ 37% đến 41% nên xuất khẩu giảm đáng kể. Nhờ QLTS, chúng tôi nắm được khả năng cung cá nuôi tại An Giang hiện vượt cầu, nên đang hạn chế ngư dân đóng bè mới, giới hạn con số cấp đăng ký bè mới năm nay là 108”.

    Hiện tại, kỹ sư Dũng đang bận rộn cùng với cơ sở làm phần mềm cung cấp chương trình cho dự án STOFA (do Đan Mạch tiến hành phối hợp cùng Bộ Thuỷ Sản) để lập phần mềm đăng ký đăng kiểm bè dùng chung cho cả nước.

    Còn nhiề̀u “đất” cho CNTT

    Các cán bộ Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản An Giang có nhiều dự định ứng dụng CNTT, tuy nhiên trở ngại lớn nhất hiện nay của họ là thiếu nhân sự. Trường Đại Học Cần Thơ, An Giang chỉ có khoa CNTT, khoa Thuỷ Sản nhưng không có ngành ứng dụng CNTT trong thuỷ sản. Còn cán bộ ngành thuỷ sản đi học CNTT thường gặp trở ngại do đi công tác liên tục làm gián đoạn việc học.

    “Nhưng tôi tin rằng những trở ngại trên dễ dàng khắc phục nếu ngành có chủ trương phát triển CNTT thích hợp”, ông Dũng nói đầy tự tin. Ông phát biểu thêm: nhu cầu ứng dụng CNTT tại Chi Cục nói riêng và ngành thuỷ sản nói chung là rất lớn. Ví dụ, cần sớm có mạng quản lý dịch bệnh trên thuỷ sản nuôi: kiểm tra bệnh tại các trạm đầu mối của tỉnh, cập nhật dịch bệnh của các tỉnh lân cận, của các nước, kịp thời thông tin về bệnh lạ. Sau nữa là ứng dụng kiểm soát môi trường, thông tin chất lượng nước qua mạng, lập phần mềm thiết kế bè cá phù hợp điều kiện từng vùng...

    Lưu Văn

    ID: B0307_30