• Thứ Sáu, 16/01/2004 09:28 (GMT+7)

    Nhu cầu tra cứu thông tin của đại biểu Quốc Hội được đáp ứng như thế nào?

     Bước đầu, Hệ Quản Trị Năng Lực Thông Tin Phục Vụ Đại Biểu Quốc Hội đã phát huy hiệu quả, và CNTT cho thấy còn có thể làm được nhiều hơn thế...   

    Ra Đời Từ Nhu Cầu Thực Tiễn


    Ông Đỗ Khắc Tái, phó giám đốc Trung Tâm Thông Tin, Thu Viện và Nghiên Cứu Khoa Học Thuộc Văn Phòng Quốc Hội

    Với Quốc Hội từ khóa IX đến nay (khóa XI), việc nâng cao chất lượng hoạt động là một yêu cầu đặc biệt quan trọng. Để đảm bảo được yêu cầu đó, thông tin về chính sách - pháp lý, các vấn đề kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng... phải được chuyển đến ĐBQH - khi có yêu cầu - một cách nhanh chóng và chính xác nhất, giúp ĐBQH tham khảo, thảo luận và ra quyết định về các vấn đề lớn của đất nước.
    Khi chất lượng hoạt động của QH ngày càng được đổi mới và nâng cao, số lượng ĐBQH chuyên trách ngày càng nhiều (hiện tại số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách chiếm 25% tổng số ĐBQH) thì yêu cầu đáp ứng thông tin được đặt ra với Trung Tâm Thông Tin, Thư Viện và Nghiên Cứu Khoa Học (TTTT) ngày càng tăng. Nếu như tại kỳ họp thứ hai, QH khóa XI tháng 12/2002, tổng số phiếu yêu cầu cung cấp thông tin và tổng số câu hỏi tương ứng là 347 và 406 thì đến kỳ họp thứ ba, Quốc Hội khóa XI tháng 5/2003, các con số tương ứng là 803 và 1.000. Áp lực về quản trị năng lực thông tin phục vụ ĐBQH đối với TTTT thuộc Văn Phòng Quốc Hội (VPQH) ngày càng gia tăng. “Việc quản trị thông tin bằng phương pháp văn thư, hành chính thông thường không còn thích hợp, đòi hỏi chúng tôi phải ứng dụng CNTT để xây dựng một hệ thống quản trị thông tin trên máy tính”, ông Đỗ Khắc Tái, phó giám đốc TTTT tâm sự. Cộng với kinh nghiệm học hỏi được từ mô hình Quốc hội Bỉ, Pháp, Thụy Điển, Mỹ... qua những chuyến công tác của đội ngũ lãnh đạo TTTT, Hệ Quản Trị Năng Lực Thông Tin Phục Vụ ĐBQH (HQTNLTT - tiếng Anh là PICMS - Parliamentary Information Capacity Management System) đã ra đời.

    Tại kỳ họp thứ ba, Quốc Hội khóa XI, HQTNLTT - sản phẩm do một công ty phần mềm trong nước, công ty Nam An, xây dựng - đã chính thức được triển khai phục vụ nhu cầu thông tin của các ĐBQH, giúp giảm bớt rất nhiều sức ép về thông tin cho các chuyên viên của TTTT.

    Khả Năng Liên Kết Thông Tin
    TTTT không phải là một cơ quan thông tin chuyên ngành. Đối tượng phục vụ của trung tâm cũng khá đặc biệt (gồm các ĐBQH, đại biểu HĐND), có địa vị pháp lý cao, lĩnh vực hoạt động lớn (bao trùm toàn bộ các lĩnh vực KT-XH), liên quan tới những vấn đề trọng đại của quốc gia như thủy điện Sơn La, nhà máy lọc dầu Dung Quất, đường Hồ Chí Minh... nên nhiều yêu cầu thông tin từ ĐBQH nằm ngoài tầm với, ngoài chức năng của Trung tâm. Vì thế, việc tổ chức, kết hợp với các cơ quan, bộ ngành khác, về cả CSDL cũng như trí tuệ là rất quan trọng. Ngoài việc phối hợp với các bộ, ngành khác để hình thành đường kết nối cơ sở dữ liệu (CSDL), TTTT cũng liên kết với các đơn vị này hình thành hệ thống chuyên gia đóng vai trò phản biện trong các lĩnh vực KT-XH. Điều này thực sự có ý nghĩa khi QH không chỉ nghe các thông tin từ Chính Phủ (gọi là dòng tin đơn tuyến) mà còn lắng nghe ý kiến phản biện từ các chuyên gia. “Chẳng hạn, khi có chủ trương xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi), có đại biểu đã yêu cầu cung cấp đơn giá vận tải biển để tính giá cước vận tải từ mỏ dầu ở Vũng Tàu đến Dung Quất, từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án. Khi đó, TTTT đã có trong tay danh sách chuyên gia về vận tải biển để hỗ trợ thông tin cho ĐBQH, đây cũng là một bộ phận cấu thành của HQTNLTT”, ông Tái dẫn chứng.

    Về cấu trúc, HQTNLTT được xây dựng theo mô hình mà trong đó, HQTNLTT ở vị trí trung tâm, xoay quanh là hệ thống các CSDL như CSDL Luật Việt Nam, CSDL biên bản hội trường, CSDL thông tin tổng hợp, CSDL trả lời chất vấn, CSDL nghiên cứu, tư vấn... Từ cuối năm 2001, CSDL thông tin phục vụ ĐBQH đã được nâng cấp và liên tục cập nhật thông tin, tập trung vào các vấn đề lớn như xây dựng pháp luật, các vấn đề kinh tế - xã hội (đầu tư, giáo dục đào tạo, chế độ chính sách LĐ-TB-XH, thuế, xuất nhập khẩu, KHCN... “Các CSDL này đang dần được số hóa thành các kho CSDL điện tử”, ông Đào Tuấn Anh, chuyên viên TTTT cho biết.

    Các Lợi Ích Khác
    Không chỉ đáp ứng các yêu cầu thông tin phục vụ ĐBQH, HQTNLTT còn cho ngay những con số thống kê để lập báo cáo tổng hợp sau mỗi kỳ họp QH. Trước đây, với những phương tiện thống kê thủ công như sắp xếp, đếm theo văn bản, công việc này phải mất vài ngày. Nhưng giờ đây, các số liệu như tổng số phiếu yêu cầu, tổng số câu hỏi, số phiếu trả lời đúng thời hạn, số phiếu chưa trả lời, số phiếu đề nghị chuyển chất vấn, loại hình thông tin phục vụ ĐBQH, nguồn cung cấp tin, người thực hiện dịch vụ thông tin phục vụ ĐBQH, thống kê ĐBQH sử dụng dịch vụ này... đều được chương trình tự động thống kê và cho kết quả ngay sau khi kết thúc phiên bế mạc của QH.
    Chưa hết, “Sau mỗi khóa hoạt động của QH, các đoàn ĐBQH các địa phương thường xây dựng kỷ yếu ghi nhận hoạt động của đoàn, của ĐBQH tỉnh đó. Họ có nhu cầu lấy thông tin ở TTTT. Thông tin trên giấy tờ rất khó tìm kiếm, nhưng khi trở thành CSDL điện tử thì việc tìm kiếm trở nên dễ dàng hơn nhiều”, ông Tuấn Anh nói thêm.

    Những ứng dụng CNTT mới chỉ ở bước đầu, song lãnh đạo của TTTT nhận xét rằng tìm một văn bản trên mạng Intranet của QH hiện nay còn dễ dàng hơn là tìm theo đường hành chính văn thư. “Tuy nhiên, hiệu quả mà CNTT mang lại không chỉ dừng ở đây, điều tôi muốn nhấn mạnh là CNTT đã tác động rất lớn đến nhận thức và phương thức hành xử hành chính của đội ngũ lãnh đạo và cán bộ hành chính VPQH. Không ứng dụng CNTT, mức độ tụt hậu sẽ tăng theo cấp số nhân”, ông Đỗ Khắc Tái khẳng định và cho biết thêm: “HQTNLTT đang được hướng xây dựng thành một dịch vụ cung cấp thông tin trọn gói trên mạng Internet cho ĐBQH”.

    Lộc Minh

    Hệ quản trị năng lực thông tin phục vụ đại biểu Quốc Hội gồm 3 thành phần chính là hệ thống CSDL, chương trình Client và hệ thống các trang Web, được xây dựng theo cấu trúc Client/Server với hệ quản trị CSDL SQL Server 2000 chạy trên các HĐH Windows 98/2000/XP/NT. Đặc biệt, phần mềm này được xây dựng trên nền Unicode.

    Chương Trình Client
    Yêu cầu của ĐBQH được cập nhật và xử lý ở đây. Chuyên viên cập nhật thông tin và nội dung của phiếu yêu cầu, sau đó chia nội dung của phiếu ra làm nhiều nội dung chi tiết để xử lý dễ dàng hơn.
    Sau khi cập nhật và phân chia nội dung của phiếu, người điều hành vào chức năng Thực hiện yêu cầu, phân công người thực thi đến các nguồn tin liên quan để thực hiện yêu cầu. Khi thu thập đầy đủ văn bản trả lời, người điều hành quay lại chức năng này để nhập văn bản đó và tạo phiếu trả lời gửi cho ĐBQH.
    Chức năng Tìm kiếm giúp tìm kiếm thông tin về ĐBQH, người thực thi, phiếu yêu cầu, tư liệu.
    Chức năng Báo cáo - Thống kê đưa ra báo cáo thống kê về tình hình triển khai phục vụ ĐBQH: loại hình thông tin phục vụ ĐBQH; tình hình triển khai dịch vụ; nguồn tin và số lần cung cấp thông tin; địa chỉ tìm tin; đại biểu yêu cầu thông tin; người thực thi; lịch trực; báo cáo tổng kết.

    Hệ Thống Website

    Hệ thống Website cho phép các ĐBQH có thể truy cập ở bất cứ nơi nào. Sau khi truy cập vào hệ thống, đại biểu có thể gửi phiếu yêu cầu của mình hoặc tìm kiếm các thông tin mình cần. Tại đây,  ĐBQH có thể xem được tất cả những phiếu yêu cầu của các đại biểu khác cùng văn bản trả lời phiếu yêu cầu đó.
    Mỗi đại biểu sẽ được người quản trị cung cấp tên và mật khẩu đăng nhập vào trang chứa danh sách các yêu cầu của các ĐBQH đã yêu cầu. Trong trang này hiển thị thông tin về các phiếu yêu cầu như: số phiếu, tên đại biểu yêu cầu, e-mail của đại biểu, ngày yêu cầu, thông tin về việc yêu cầu đã được trả lời hay chưa...

    Để gửi yêu cầu, đại biểu nối tới trang gửi yêu cầu, soạn thảo theo mẫu phiếu và  gửi yêu cầu. Trang này được kết nối tới trang danh sách, trang tìm kiếm và trang log-out. Khi gửi thành công sẽ hiển thị trang danh sách yêu cầu.
    Trang tìm kiếm bao gồm tìm kiếm một cụm từ trong nội dung, theo tên đại biểu, theo e-mail ĐBQH, theo ngày yêu cầu, tìm kiếm yêu cầu đã trả lời, chưa trả lời...
    Hệ thống Website này được nối với một WebServer. WebServer này lấy dữ liệu từ CSDL để cung cấp cho các trang Web khi ĐBQH yêu cầu, đồng thời cũng đưa thông tin về phiếu yêu cầu mà đại biểu gửi vào CSDL.

    HQTNLTT là giải pháp tích hợp ứng dụng và Website cùng chung một CSDL. Hệ thống cho phép đa truy cập, đa người dùng, không hạn chế về không gian và thời gian, giúp rút ngắn thời gian đáp ứng yêu cầu của ĐBQH từ một vài ngày trước đây xuống đến tức thì hoặc trong vòng 24 giờ. Hơn nữa, đại biểu am hiểu CNTT có thể tự tìm thông tin mình muốn mà không cần phải yêu cầu chuyên viên thực thi. Một kênh thông tin giữa đại biểu và chuyên viên được tạo ra với lưu lượng thông tin rất lớn nhờ Internet, góp phần tăng hiệu quả hoạt động của QH.
    Phần mềm được xây dựng bởi công ty Nam An. Thông tin về Nam An: Địa chỉ: 16A Lý Nam Đế, Hà Nội; ĐT: (4) 823 5197/733 6579.

     

     

    ID: B0309_22