• Thứ Năm, 15/01/2004 15:26 (GMT+7)

    Chất tin học trong Sản Phẩm Chủ Lực của TP.HCM

    Qua khảo sát của ban chỉ đạo chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP.HCM, sản phẩm giày-dép-sandal PU (Polyurethane) và giày PVC (Polyvinil Clorua) của công ty TNHH sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tân (Bita’s) là hai sản phẩm duy nhất trong nhóm ngành nhựa được chọn hỗ trợ trong đợt I. Bita’s còn được đánh giá là có công nghệ sản xuất tiên tiến...

    Bước đi bằng đôi chân công nghệ  “Tăng tốc” nhờ công nghệ...

    Công ty Bita’s thành lập tháng 6/1991, tiền thân là Xí Nghiệp Hợp Doanh Cao Su – Nhựa Tân Bình lẽ ra đã bị giải thể do làm ăn thua lỗ với nợ không có khả năng chi trả lên đến 4,3 tỷ đồng. Có thể thấy khởi đầu của Bita’s rất không thuận lợi trong điều kiện tài chính là số âm.
    Bước đầu hoạt động, Bita’s chủ yếu làm hàng gia công cho các công ty trong nước, tạo nguồn thu thanh toán nợ của xí nghiệp cũ, đồng thời tìm hướng phát triển. Đến khi đã giải quyết dứt điểm nợ cũ, ban giám đốc công ty nhận thấy chỉ có thể “tăng tốc” bằng cách liên tục tạo ra sản phẩm mới, mang dấu ấn riêng để cung cấp cho thị trường. Thế là một loạt quyết định đã được đưa ra: tham gia hội chợ chuyên ngành giày dép quốc tế tại Ý, Đức, Pháp... để tìm hiểu công nghệ và thị trường, cử nhân viên đi học công nghệ sản xuất giày tại Ý, Cộng Hoà Czech. Nhiều máy vi tính cài đặt sẵn chương trình đồ họa cũng được trang bị cho phòng thiết kế để nâng công suất vẽ mẫu mã. Đến năm 1998, giá trị tài sản cố định của công ty đã đạt khoảng 19 tỷ. Cũng năm này, Bita’s nhập hai dây chuyền sản xuất dép và đế PU (Polyurethane) của Ý trị giá gần 5 tỷ đồng. Trong đó có hệ thống tự điều chỉnh khối lượng nguyên liệu, số lần rót khuôn theo thông số nhập vào.
    Lúc này, chương trình đồ họa thông thường không thể cung cấp dữ liệu cho dây chuyền. Thêm nữa, mẫu giày lại biến đổi liên tục theo mùa: mùa đông cần giày cổ cao ấm áp, mùa hè cần dép kẹp thoáng mát và theo từng quốc gia: khách hàng Đức đặt hàng giày sandal “bụi đời”, Ý lại thích giày da cổ điển, v.v... nên công suất thiết kế mẫu lại cần phải tăng lên.
    Kế hoạch số hoá khâu thiết kế mẫu đã được vạch ra và được ban giám đốc công ty xem là bước tiến chiến lược!

    Tăng giảm cỡ giày bằng... Chuột
    Cuối 1999, Bita’s cử  ba nhân viên kỹ thuật đến Cộng Hoà Czech mua và học cách sử dụng phần mềm (PM) tăng giảm cỡ giày tự động CGS và PM tính định mức Unishoe cùng các thiết bị chuyên dụng đi kèm: máy cắt, bàn mã số hoá, máy tính với màn hình 21'. Đây là những PM và thiết bị chuyên dùng trong lĩnh vực thiết kế giày của nhiều nước trên thế giới, tiền đầu tư sơ sơ trên 30.000 USD.
    Phó phòng kỹ thuật Lê Văn Long cho biết quy trình: từ một ý tưởng mới về kiểu giày, phòng thiết kế vẽ tạo mẫu bằng tay rồi phác thảo trên máy vi tính bằng các chương trình thiết kế “thư ký khuôn”, chương trình đồ hoạ Corel Draw, Photoshop. Một mẫu rập bằng giấy sẽ được cắt dựa trên bản vẽ này (thực hiện bằng tay). Mẫu rập sau khi được duyệt sẽ gửi tham gia hội chợ chuyên ngành giày trong nước và nước ngoài để thu thập ý kiến. Nếu có khách hàng đồng ý chọn hay trung tâm nội địa của công ty đặt hàng, mẫu sẽ được số hoá để đưa vào dây chuyền sản xuất.
    Mẫu rập được số hoá bằng bàn mã số hoá. Kỹ thuật viên click (bấm) chuột bốn phím trên từng điểm của rập để “nhập” mẫu vào máy vi tính. Sau đó “tha hồ” tăng, giảm kích cỡ giày theo yêu cầu: trẻ em khoảng 25-35; người lớn 35-46... theo các mẫu kích cỡ được lưu trong cơ sở dữ liệu của CGS hay tự nhập vào. 

    Dữ liệu từ CGS truyền sang máy tính chứa PM Unishoe để tính toán vật tư, giá thành. Dữ liệu này cũng được xuất ra máy cắt, cắt trên giấy rập tạo thành bộ rập chuẩn. Từ bộ rập chuẩn, đưa đi thực hiện mẫu 'sống' đều cỡ để kiểm tra độ vừa chân, bố cục sản phẩm. Nếu mọi kiểm tra đều thông qua sẽ đưa bộ rập chuẩn sang chế tạo thành bộ công cụ sản xuất như khuôn, form... và đưa vào sản xuất.
    Ông Lê Văn Long cho biết: Trước đây tăng cỡ bằng tay cho một mẫu phải mất 1,5 đến 2 ngày/1 cỡ, với máy tính chỉ khoảng ½ buổi với nhiều cỡ. Muốn chỉnh sửa, máy cũng giúp chỉnh nhanh; trước kia chỉnh bằng tay nghĩa là làm lại mẫu rập mới rất tốn thời gian. Máy còn giúp lưu trữ mẫu mã để nghiên cứu... Với Unishoe tính vật tư, giá thành, mọi yêu cầu báo giá của khách hàng đều được đáp ứng rất nhanh. Công suất tạo mẫu hiện nay đạt 30 mẫu/tháng.
    Có thêm phần mềm hỗ trợ sản xuất, doanh thu công ty tăng rõ rệt: tổng doanh thu năm 2002 so năm 1999 tăng 173%, trong đó nội địa tăng 137%, xuất khẩu tăng 40%.  Đến nay, Bita’s đã xuất khẩu hàng sang 61 công ty của 24 quốc gia ở châu Âu, Trung Đông và châu Á.

    Nhiều kế hoạch mới đến 2005 và hơn nữa

     “Sở thích khách hàng ngày nay rất khác trước”, ông Lê Minh Thái, phó giám đốc phụ trách kỹ thuật công ty Bita’s cho biết. Trước kia khách hàng thay đổi sở thích theo mùa, nay liên tục thay đổi. Có khi khách hàng thích một đôi giày chỉ vì thấy diễn viên thần tượng của mình mang. Do đó chỉ có ứng dụng CNTT vào thiết kế mẫu cũng như sản xuất, quản lý v.v... mới có thể chuẩn hoá sản phẩm và rút ngắn thời gian, tiết giảm nhân công, tăng doanh thu.
    Theo ông Thái, hiện ban giám đốc công ty đang cân nhắc ứng dụng thêm những công nghệ hiện đại hơn nữa như PM tạo mẫu 3D. Khi đó, khâu thiết kế tạo mẫu sẽ được thực hiện hoàn toàn trên máy, có thể xoay sản phẩm nhiều chiều, cắt lớp rất trực quan. Kế hoạch nối mạng LAN toàn công ty cũng đang được phác thảo (hiện chỉ mới nối mạng cục bộ phòng thiết kế).
    Trước mắt, Bita’s đang bận rộn với việc di dời nhà xưởng vào khu công nghiệp Tân Tạo (Bình Chánh, TP.HCM) và tiếp tục đầu tư máy móc thiết bị để sản lượng sản phẩm PU đạt số lượng 5.000.000 đôi/năm, sản phẩm PVC đạt 1.000.000 đôi/năm vào 2005.
    “Với đôi chân công nghệ, Bita’s đang vững chãi tiến bước vào thị trường giày dép của Việt Nam và thế giới!” – Ông Thái tự tin khẳng định.

    Theo Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP.HCM giai đoạn 2002-2005 , TP.HCM sẽ phát triển từ 60-100 sản phẩm công nghiệp chủ lực, có logo chung tạo nên thương hiệu “Sản phẩm được sản xuất tại TP.HCM-Việt Nam”. UBND TP hỗ trợ DN được chọn lựa trên 5 lĩnh vực: 1.Thiết kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của DN; 2. Tiếp thị; 3. Đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt động hướng dẫn, tư vấn hay môi giới DN với nhà tư vấn có năng lực và uy tín; 4. Giúp DN tiếp cận nguồn lực về khoa học và tài chính của TP; 5. Lập quỹ phát triển khoa học công nghệ phục vụ chương trình.
    Giai đoạn I (2002-2003) có 12 sản phẩm thuộc 5 nhóm ngành: thực phẩm, giấy, nhựa, điện, cơ khí của 8 DN đã được chọn. Kinh phí dự kiến cho chương trình trong giai đoạn này là 20 tỉ đồng.

    Bích Ty

    ID: B0305_0