• Thứ Sáu, 27/02/2004 10:43 (GMT+7)

    Võ Thanh Tùng - "Số hóa" nhạc khí dân tộc Việt




    Đó là đánh giá củaGS TS Trần Văn Khê, nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống nổi tiếng, về công trình nghiên cứu'Nhạc khí dân tộcViệt' của Thạc Sĩ Võ Thanh Tùng. Trong khi đó, GS TS nghệ sĩ nhân dân Quang Hải (Nguyên giám đốc Nhạc Viện TP.HCM)
    Nhận xét: 'Quyển sách 'Nhạc khí dân tộc viết', với đĩa CD-Rom kèm theo,đã minh chứng cho sự thành công của việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ chuyên ngành âm nhạc, tạo nên niềm phấn khích để thế hệ sau tiếp tục ngiên cứu theo phương pháp này'.


    Thạc Sĩ _Võ Thanh Tùng

    Từ tiếng đàn bầu...
    Đọc qua sách của ông Tùng và đối chiếu với mục tương ứng trên CD-ROM, tôi thử chọn trước hết là đề tài đàn bầu để xem sao...
    'Tiếng đàn bầu rất đẹp vì âm thanh phát ra toàn là âm bồi, tiếng đàn mềm mại, ngọt ngào, lắng sâu vào tình cảm của con người...'. Cả sách và đĩa đều có cùng nội dung như vậy về màu âm của đàn bầu, cũng như những mô tả tư thế ngồi và cách gảy đàn bằng lời và ảnh, về các ngón luyến, nhấn, chùng, rung, giật, vỗ trong kỹ thuật diễn tấu. Kèm theo, rất chu đáo, là phần ký âm các bài Kim Tiền Huế (trích đoạn), Hoàng Nam (hò nhì, trích 1 câu), Nam Xuân, Nam Ai (hò tư), Dạo Xuân (hò tư)... được biểu diễn bởi đàn bầu. Tuy vậy, đến đây và cả đến phần giới thiệu các nhạc khí tương tự ở Đông Nam Á cùng các nước thì ưu thế của CD-ROM đã vượt lên hẳn so với sách: ta không chỉ được xem  ảnh và đọc qua phần giới thiệu về những đàn một dây Ichigenkin của Nhật, đàn Ixian qin của Trung Quốc, đàn Gopiyantra (Ấn Độ) và Sadev (Campuchia), mà còn có thể nghe được âm thanh của chúng để thử so sánh với tiếng đàn bầu mềm mại, sâu lắng của ta...
    Càng click sâu vào, càng hiểu vì sao sách và CD-ROM 'Nhạc khí dân tộc Việt' đã được trao Giải Nhất Giải Thưởng Âm Nhạc (chuyên ngành nghiên cứu lý luận) năm 2001 của Hội Nhạc Sĩ Việt Nam. Bởi ít ra thì việc 'giới thiệu giản lược 45 nhạc khí của dân tộc Việt', xếp loại theo nhạc khí dây (bộ Dây - Cordophone), nhạc khí hơi (bộ Hơi - Aérophone), nhạc khí màng rung (bộ Màng - Membranophone), nhạc khí tự thân vang (bộ Tự thân vang - Idiophone) đều thực hiện rất công phu với mỗi loại đều có phân tích về hình thức cấu tạo, màu âm, kỹ thuật diễn tấu, vị trí trong các dàn nhạc..., và so sánh với các nhạc khí tương tự ở các nước như ta đã biết qua ở trường hợp đàn bầu.

    ... Đến các tổ chức dàn nhạc
    Điều thú vị là công trình còn giúp ta được dịp bồi bổ (hay củng cố lại) những kiến thức về lịch sử văn hoá Việt Nam. Chẳng hạn, chương đầu tiên về lịch sử nhạc khí truyền thống Việt Nam, trong đó nổi bật là việc trích dẫn nhiều nguồn tài liệu cổ kim về các tổ chức dàn nhạc của dân tộc. Nào là dàn nhạc cung đình với Đường thượng Chi nhạc và Đường hạ Chi nhạc (thế kỷ XV), dàn đại nhạc (thế kỷ XIX), dàn nhạc huyền (thế kỷ XIX), dàn nhã nhạc (nhạc thiều). Các dàn nhạc khác, như dàn nhạc tuồng (hát bội), dàn nhạc chèo (chèo cổ, chèo mới), nào là dàn nhạc cải lương, dàn nhạc thính phòng (hát ả đào, ban nhạc ả đào, ca Huế), ban nhạc tài tử Nam bộ, dàn nhạc lễ (từ phường Bát Âm đến dàn nhạc lễ miền Nam, đội Bá Lịnh, ban nhạc Chầu Văn), dàn nhạc dân gian, và dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
    Xuyên qua các chương sách sau đó, ta còn bắt gặp không ít những trích dẫn từ Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Đại Nam thực lục, An Nam Chí Lược, đến Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, hoặc từ luận án tiến sĩ của GS Trần Văn Khê... về những điều liên quan đến đề tài.
    '... Ở chùa Phật Tích (cách thủ đô Hà Nội 20km), có pho tượng đầu người mình chim bằng đá của thời Lý (1010-1225) đang vỗ trống phong yêu, trên những phiến đá vuông mà xưa kia người ta dùng để làm bệ kê các cột chùa to lớn. Bốn mặt cạnh của các phiến đá ấy có chạm nổi dàn nhạc gồm 10 người: 2 người thổi kềnh, 1 người gõ phách, 1 người kéo nhị, 1 người thổi sáo ngang, 1 người gảy đàn tranh, 1 người đàn tỳ bà, 1 người thổi tiêu, 1 người đánh đàn nguyệt (hay đàn tam), 1 người đánh trống. Như vậy, từ 1.000 năm nay đã có một dàn nhạc gồm bộ Gõ (phách, trống), bộ Hơi (sáo ngang, tiêu, kềnh), bộ Dây gảy (tranh, tỳ, nguyệt hay tam) và bộ Dây kéo (nhị)...'.
    Các đoạn kể của GS TS Trần Văn Khê được trích dẫn kèm theo là những ảnh chụp các bệ đá có chạm người đàn tỳ bà, kéo nhị... được tác giả Võ Thanh Tùng biên tập và xử lý bằng PhotoShop thật rõ nét, giúp mang lại một cảm xúc sâu lắng và biết ơn đối với tất cả những việc làm của những người đã góp phần quan trọng của mình để bảo tồn, gìn giữ và phát triển kho tàng quý giá về âm nhạc truyền thống của dân tộc.

    Vì sao báo chí Singapore xôn xao?
    Nếu trước nay âm nhạc truyền thống Việt Nam tồn tại và phát triển chủ yếu dựa vào phương pháp truyền ngón, truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác nên không được phổ biến rộng rãi và đang  mất dần một phần đáng kể, thì chắc chắn công trình 'Nhạc khí dân tộc Việt' sẽ càng 'bổ ích cho  tất cả mọi người, già trẻ bé lớn, khi muốn tìm hiểu gia tài văn hóa quý báu và phong phú mà cha ông đã trao lại cho chúng ta' - như Giáo sư tiến sĩ  Trần Văn Khê đánh giá.
    Từ nay, không chỉ việc dạy và học môn Nhạc Khí Học dân tộc tại các Nhạc Viện, các cơ sở đào tạo âm nhạc mà cả việc dạy về âm nhạc truyền thống ở các trường THCS đều có thể tham khảo  cái kho tàng nghiên cứu về nhạc khí này một cách dễ dàng trên máy tính cá nhân. Chính ý nghĩa lớn ấy của công trình, xuất thân là luận văn thạc sĩ chuyên ngành lý luận âm nhạc của tác giả Võ Thanh Tùng, đã gây được sự chú ý rất lớn đối với ngay cả giới báo chí Singapore khi họ nắm được bản dịch sang tiếng Anh về công trình này, đăng trong Bulletin of Vietnam Musicology Institute (số 2, tháng 1/2000, do Viện Âm Nhạc - Bộ VHTT xuất bản phổ biến đến nhiều nước trên thế giới). Ngay sau đó, báo chí Singapore đã có lúc truy vấn chính phủ và các nhà... tin học của họ vì sao không làm được một công trình ứng dụng CNTT để nghiên cứu và quảng bá nhạc dân tộc của Singapore như của 'Mr Tung' với nhạc khí Việt Nam!

    'Bạo gan làm đại'


    Giảng viên Huỳnh Văn Khải, biểu diễn đàn Nguyệt để tác giả Võ Thanh Tùng Chụp ảnh và ghi âm.

    Thật ra, các nhà báo Singapore làm sao biết đến cái sự thật 'trớ trêu' sau: Để thai nghén và nuôi dưỡng công trình lớn lao ấy, tác giả Võ Thanh Tùng hầu như đã phải trải qua bốn năm trời 'bạo gan làm đại' - đúng như cách nói của anh.
    Không chỉ có sự tản mát và không đầy đủ về các tư liệu nghiên cứu trong bối cảnh chung đất nước còn có những khó khăn về mặt này mặt khác, ngay việc một cử nhân guitar như Võ Thanh Tùng lại bước vào lĩnh vực nghiên cứu lý luận âm nhạc với đề tài nhạc khí dân tộc Việt cũng đáng để ngạc nhiên.

    Trở lại câu chuyện của ông Tùng vào thời điểm năm 1997, khi GS nhạc sĩ Tô Vũ nhận hướng dẫn ông làm luận văn thạc sĩ. GS nhạc sĩ Tô Vũ gợi ý: Có một kho tàng âm nhạc dân tộc cực kỳ lớn,  nên hướng vào đó. Cụ thể, nên chọn giới hạn đề tài nhạc khí cổ truyền của dân tộc Việt, thay vì nghiên cứu tất cả hơn 200 nhạc khí của 54 dân tộc tại Việt Nam.
    Sau đó, cũng chính GS Tô Vũ giúp ông chọn lọc để lên danh sách 45 nhạc khí cần đề cập. Thế nhưng ngay việc giới hạn như vậy, ông cũng lúng túng vì trước đó chưa có ai thống kê, sưu tầm đầy đủ 45 nhạc khí ấy. Tham khảo chương trình nhạc khí quốc tế 'Music Instrument' của Microsoft, sự lúng túng chuyển thành nỗi thất vọng (và cả sự bực mình vì tự ái dân tộc bị đụng chạm) khi trong đó không hề có một dòng nào về nhạc khí Việt Nam. Muốn 'tiếp cận' GS Trần Văn Khê để hỏi ý kiến thì lúc đầu quả thật rất khó vì... không quen biết; đành phải 'nương theo' các bạn là những học trò của giáo sư để đến xin nói chuyện chừng mươi phút trong quỹ thời gian giáo sư tiếp học trò...

    Về sau, dù có sự hỗ trợ về tài liệu quý báu từ GS Trần Văn Khê và nhiều vị giáo sư khác, nhưng ông Tùng vẫn phải thu xếp lặn lội tìm kiếm thêm từ các tài liệu cổ liên quan cho đến các hình ảnh, âm thanh thật của từng nhạc khí. Với tư cách là... hội viên Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam, thành viên Liên Đoàn Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Quốc Tế (FIAP) do từng đoạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, người giảng viên môn guitar và cũng là cán bộ Phòng Quản Lý Khoa Học tại Nhạc Viện TP.HCM này đã tranh thủ những chuyến ra Hà Nội nhân các hoạt động về... nhiếp ảnh (hội nghị, đại hội, hội thảo chuyên đề...) để đi làm đề tài về nhạc khí dân tộc. Có vẻ cái 'chân nhiếp ảnh' và kỹ năng tin học, kể cả về xử lý đồ hoạ trên máy tính cũng giúp ông thật nhiều không chỉ trong việc làm nên công trình 'Nhạc khí dân tộc Việt' mà còn giúp thêm cho kinh tế gia đình khi Võ Thanh Tùng đã phải trải qua một thời gian dài tham gia dịch vụ xử lý ảnh cho các sản phẩm bao bì, quảng cáo để làm dịu bớt những khó khăn về đời sống cho cả nhà; kể cả đi dạy (tiên phong trong làng nhiếp ảnh TP.HCM) về ảnh kỹ thuật số để có thêm tiền trút vào cho đề tài thạc sĩ lý luận âm nhạc!

    Kỹ năng và... Một 'Chữ duyên' 
    Để thực hiện CD-ROM ấy, biết bao công phu tác giả đã bỏ ra: từ quá trình thu thập tài liệu như ghi nhận hình ảnh (chụp, quét và xử lý ảnh), thu âm thanh, ký âm âm nhạc (dùng chương trình Encore) và chú giải, cho đến việc ghi âm trực tiếp các buổi biểu diễn nhạc khí dân tộc của các nghệ nhân và xử lý âm thanh (với chương trình Sound Force). Cuối cùng, phải nối kết giữa hình ảnh, âm thanh ký âm và chú giải trên chương trình FrontPage của Microsoft để xây dựng nội dung theo giao diện các trang web. Tất cả đều do tác giả tự thực hiện trên máy tính ở nhà, do ông đã tự học, tự nghiên cứu từ năm 1993 các chương trình ứng dụng cho âm nhạc như Encore, CakeWalk, và nhất là  Sound Force; sau đó là tự học chương trình xử lý ảnh PhotoShop, rồi tự học thiết kế web và nghiên cứu các ứng dụng của MS FrontPage 98...
    Một trong những công sức mà tác giả Võ Thanh Tùng đã bỏ ra nhiều nhất chính là cố sưu tầm bằng được những âm thanh thực của từng nhạc khí cổ truyền, thay vì dùng đàn organ để 'nhái'. Bởi vì organ không sao 'nhái' nổi chữ đờn của Việt Nam, hay tiếng nhấn non, già của nghệ nhân khi biểu diễn trên nhạc cụ dân tộc. Vì vậy, ông chọn ngay con đường gian khổ nhất: phải sưu tầm và tranh thủ tất cả các cơ hội để ghi âm và nhập âm thanh thực của các nhạc khí dân tộc, qua sự biểu diễn của các nghệ nhân.
    Tác giả đã may mắn được các đồng nghiệp là giảng viên khoa Âm nhạc Dân Tộc (Nhạc Viện TP. HCM) ủng hộ để cùng tham gia biểu diễn các nhạc khí thích hợp. Nghệ sĩ Đức Dậu (Nhóm nhạc Phù Đổng) cũng tham gia biểu diễn các nhạc khí bộ Gõ. Với các trích đoạn của dàn nhạc tuồng và nhạc chèo, Đài Tiếng Nói Nhân Dân TP.HCM đã nhiệt tình cho phép tác giả chọn lọc các trích đoạn từ kho lưu trữ của đài.

    Chưa hết, vì 'chữ duyên' của tác giả vẫn rất lớn: Năm 1997, ông gặp may khi dàn nhạc cung đình Huế  vào TP.HCM biểu diễn trong Liên Hoan Ca Múa Nhạc Dân Tộc các tỉnh phía Nam. Dịp khác, tỉnh Phú Thọ đưa một số trống đồng vào để biểu diển tiết mục đánh trống nhân kỷ niệm 300 năm Sài Gòn -  TP.HCM, tổ chức tại Công Viên Văn Hoá TP (Tao Đàn). Những dịp ấy, ông Tùng đều không bỏ lỡ thời cơ để chụp ảnh và ghi âm.
    Tuy vậy, với các vết nứt trên mặt trống thì có thể dùng PhotoShop để chỉnh sửa trên ảnh trước khi ghi lên đĩa CD-ROM; song tiếng trống đồng ghi âm bị nhoè thì có dùng phần mềm Sound Force 4.0 'cứu chữa' cũng không ăn thua, do trống đã bị nứt, làm hỏng tiếng! Vì vậy, ông đã tranh thủ nhiều dịp để đi thăm gần hết các nơi có mẫu trống đồng như một số  bảo tàng tại Hà Nội và cả bảo tàng Lịch sử trong Thảo Cầm Viên TP.HCM. Thế nhưng không nơi nào cho phép ông... chạm vào trống đồng. Cuối cùng, may mà con gái nhạc sĩ Tô Vũ là viện trưởng  Viện Nghiên Cứu Văn Hoá Nghệ Thuật phía Nam đã 'mạnh dạn' cho phép ông đánh thử mẫu trống đồng tại Viện để nghe và ghi âm...

    Khi 'Chữ duyên' gặp... 'Chữ tâm'!
    Để ghi dĩa, lúc đầu ông chọn định dạng 16 bit - stereo. Nhưng muốn chứa đủ thư viện các âm thanh đã sưu tầm, phải cần đến 2 đĩa CD-ROM, chưa kể việc truy xuất dữ liệu cũng chậm chạp, khó khăn. Theo gợi ý của GS TSKH Hoàng Kiếm, giám đốc Trung Tâm Phát Triển CNTT (Đại Học Quốc Gia TP.HCM) về việc chương trình phải đòi hỏi cấu hình máy tính thấp nhất, để bất kỳ máy  tính cá nhân cỡ nào cũng sử dụng được, ông đã chuyển trở lại với định dạng 16 bit-mono cho 'nhẹ' đi nhiều.
    'Dù vậy, tôi thật không dám nén âm thanh với định dạng .MP3, vì nghe nói nếu làm vậy thì cả tôi và người nghe đều rồi phải trả tiền bản quyền MPEG. Vì vậy, tôi chọn định dạng .WAV, phù hợp cho mọi cấu hình máy tính. Về sau, hy vọng có thể dùng cả các file .AVI để có được các ảnh động...' - ông Tùng tâm sự.

    'Và hãy còn một 'điều thiếu sót' trong CD-ROM ấy', ông nói tiếp. Đó là có một nhạc khí đến nay vẫn ai chưa tìm ra: cái phương hưởng (thuộc bộ Gõ) từ dàn nhạc cung đình Trung Quốc thời xưa truyền sang Việt Nam và có mặt trong dàn nhạc cung đình Huế, nhưng đến nay chưa ai có cả hình ảnh lẫn âm thanh của nó, kể cả trong tất cả sách tại Thư Viện Tổng Hợp và những thư viện âm nhạc Việt Nam. GS Trần Văn Khê có nhắc đến song chính ông cũng không có tư liệu riêng về nó. Tìm trên internet cũng không thấy. Ông Tùng nói nếu có dịp, sẽ nhờ tìm phương hưởng tận bên... Trung Quốc thì may ra.
    Một hôm có dịp gặp GS Trần Văn Khê, chúng tôi mang nỗi tâm sự của ông Tùng về 'cái khuyết' 1/45 của nhạc khí phương hưởng để hỏi giáo sư. GS Trần Văn Khê bảo: 'Thật ra, bộ gõ phương hưởng bằng kim khí vốn là nhạc khí cung đình của Trung Quốc. Ở Việt Nam, thời xưa người mình xếp nó vào loại 'huyền nhạc' (treo bằng dây, như trường hợp treo cái khánh), thường chỉ treo trong những dịp lễ như tế Nam Giao chứ không đánh. Vì vậy, cũng không nhất thiết phải sang Trung Quốc để sưu tập làm chi!'.

    Chúng tôi lại kể về điều ấy với tác giả Võ Thanh Tùng. Ông cười: 'Vậy là chữ duyên của PCWorld B cũng rất lớn, giúp cho tôi thêm yên tâm về công trình của mình và từ nay cũng nhẹ đi nỗi ám ảnh về phương hưởng...'.
    Vâng, nếu quả có'chữ duyên' thật sự, thì cái duyên của tất cả những người quan tâm đến âm nhạc và văn hoá dân tộc nay ại cùng ngồi bên nhau với một cái tâm mang sắc thái mới: Làm sao số hoá để bảo tồn và phát triển cả cái kho tàng quý báu ấy.
    Chính với cái tâm ấy mà một người'gan bằng trời' như thạc sĩ Võ Thanh Tùng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ nhiều phía, kể cả gần đây nhất là từ Quỹ Phát triển Văn Hoá Thuỵ Điển-Việt Nam với việc hỗ trợ chi phí cho ông thực hiện CD-Rom'Nhạc khí dân tộc Việt'.
    Không có chữ tâm, liệu chỉ'bạo gan làm đại'

    ID: B0202_34