• Thứ Ba, 30/03/2004 10:19 (GMT+7)

    Công nghiệp thời trang TP HCM, bao giờ ?


                
                   Các cuộc biểu diễn thời trang

    TP.HCM dự kiến sẽ thành lập Viện Phát Triển Công Nghiệp Dệt May, và một trong các nhiệm vụ của Viện này là hình thành ngành công nghiệp thời trang tại Thành phố. Bước đầu tìm lời giải cho các câu hỏi căn bản Vì sao? Như thế nào? Bao giờ... theo góc nhìn thực tế.

    Chưa vào sản xuất công nghiệp...

    Hai năm nay, từ một số công ty lớn như May Việt Tiến, Agtex (May 28), cho đến Lega Fashion, Viện Mẫu Thời Trang Việt Nam (Fadin) hay Trường Kinh Tế Kỹ Thuật May TP.HCM... đều đã sử dụng hệ thống ArtWorks Studio của Gerber Technology trong việc thiết kế (hay dạy thiết kế) mẫu mã sản phẩm.

    Quả thật, ArtWorks là một hệ thống phần mềm chuyên dụng rất mạnh, cung cấp nhiều khả năng từ phác thảo kiểu trang phục cho đến thiết kế mẫu vải; tạo mẫu vải in; thiết kế mẫu vải dệt kim và dệt thoi; kết hợp các thiết kế để tạo thành catalog hay các ấn phẩm giới thiệu sản phẩm...

    Tại các nước phát triển, từ công đoạn thiết kế mẫu (thiết kế mỹ thuật, đồ hoạ - gọi chung là fashion design), chuyển sang thiết kế mẫu mang tính công nghiệp và thuần tuý kỹ thuật (pattern design), nhằm "giải phóng" mẫu ra các chi tiết nhỏ để cắt lên vải trước khi tiến hành nhảy cỡ (grading design) ra các size khác nhau, và giác sơ đồ (marking)... đều được thực hiện với sự hỗ trợ của máy tính.

    Trong khi đó, ngay ở giai đoạn thiết kế mẫu, nhìn chung ArtWorks vẫn chưa đạt tới vị trí một phần mềm thật sự đắc dụng tại nhiều đơn vị ở TP.HCM như vừa nêu ở trên. Anh Lê Tuấn Kiệt, nhân viên thiết kế tại Lega Fashion (TP.HCM) cho biết: "Phải là một đơn vị công nghiệp hẳn như May Việt Tiến, và phải với số lượng đơn hàng lớn mới cần dùng ArtWorks để tạo kiểu dáng công nghiệp. Vì vậy, trên thực tế, hơn 70% công việc thiết kế thời trang tại Lega Fashion hiện nay vẫn tiếp tục là... dạng thủ công".

    Nhà tạo mẫu Minh Hạnh, giám đốc Fadin, phó tổng biên tập tạp chí Mốt Việt Nam, cũng thừa nhận: "Phần mềm máy tính như ArtWorks hỗ trợ rất mạnh cho sự thay đổi nếu nhà thiết kế muốn tìm kiếm về màu sắc hay các hiệu ứng lạ, chất liệu lạ; hoặc hỗ trợ trang trí các hoạ tiết trên áo, trên quần... Khi đó, sự trợ giúp của máy tính sẽ giúp nâng các chi tiết lên mức thật sự "sắc bén". Tuy vậy, để lên những bản vẽ kỹ thuật với sự hỗ trợ của máy tính, quả thật cần nhiều thời gian hơn một bản vẽ tay...".

    Và bà phân tích: "Để tạo ra một sản phẩm thật chính xác, Fadin cần một hệ thống máy tính hỗ trợ nhưng chỉ đến "giới hạn ArtWorks" là xong (từ vẽ mẫu cho đến nhiều lắm là cho ra kích cỡ, tức giai đoạn pattern design). Nếu xem đó là "phần đầu" thì hầu hết các xí nghiệp may lại chỉ có "phần đuôi" (hệ thống giác sơ đồ, cắt và ra sản phẩm). Việc thiếu gắn kết giữa "phần đầu" với "phần đuôi" như vậy chính là một thực tế rất đáng buồn của nền công nghiệp dệt may ở Việt Nam: chúng ta chưa nối kết được hai giai đoạn thiết kế và sản xuất. Nếu cứ kéo dài tình trạng thiết kế thời trang chưa đi vào sản xuất công nghiệp với những đơn hàng lớn từ vài ngàn đến chục ngàn sản phẩm, mãi mãi chúng ta sẽ chỉ có những... "nhà may". Mỗi nhà thiết kế là một "thợ may" hay một "nhà may", tuy có thể có những bộ thiết kế rất đẹp, rất đạt nhưng không thể đưa đến cộng đồng...".

    Để gắn liền thiết kế thời trang với sản xuất, cần có một chiến lược đúng đắn để đưa các sản phẩm thời trang của các nhà tạo mẫu vào sản xuất công nghiệp, và tạo nên những yêu cầu từ các nhà sản xuất đặt hàng cho các nhà tạo mẫu thời trang nhằm nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm dệt may Việt Nam. Chỉ trên nền tảng chiến lược ấy, việc sử dụng máy tính với các hệ thống giải pháp bao gồm thiết bị và phần mềm thích hợp cho thiết kế và sản xuất (CAD/CAM) mới càng hiệu quả...

    Bao giờ?


    ... và cả cuộc thi Vietnam Collection Grand Prix hàng năm vẫn chưa đủ tạo nên một ngành công nghiệp thời trang Việt Nam(Trong ảnh: Ban giám khảo Vietnam Collection Grand Prix 2001 đang xem xet trang phục của thí sinh dự thi).

    "TP.HCM cần có định hướng phấn đấu trong 5-10 năm nữa sẽ trở thành trung tâm thời trang của cả nước" - bà Quách Tố Dung, phó giám đốc Sở Công Nghiệp TP.HCM, chủ nhiệm đề tài "Chiến lược phát triển ngành dệt may TP.HCM đến năm 2005", nhận định.

    Theo bà Tố Dung, đề tài nghiên cứu trên đã đề nghị thành lập Viện Phát Triển Công Nghiệp Dệt May tại TP.HCM. Một trong mười nhiệm vụ của Viện này sẽ là thúc đẩy phát triển công nghiệp thời trang.

    Trong khoảng 5 năm gần đây, tại TP.HCM đã xuất hiện nhiều nhà tạo mẫu có tiếng vang với nước ngoài. Mặt khác, vài năm nay ngành thời trang biểu diễn cũng đã gây nhiều chú ý trong xã hội. Tuy vậy, rõ ràng những trang phục trình diễn trên sân khấu vẫn chưa được sản xuất với số lượng lớn trong các xưởng may công nghiệp; và cũng chưa có bộ sưu tập thời trang nào được sản xuất hàng loạt, được xuất khẩu với nhãn hiệu Việt Nam. "Ngành thời trang cần tái định hướng, thực dụng hơn và phải coi sân khấu là nơi quảng cáo, kích thích và xác định xu hướng ăn mặc của xã hội để ngành dệt may công nghiệp bán được hàng" - bà Tố Dung khẳng định.

    Trong khi đó, nhà tạo mẫu Minh Hạnh kể: "Các cuộc biểu diễn thời trang của chúng tôi ở nước ngoài rất thành công vì người ta nhận ra được tâm hồn Việt Nam trong các kiểu dáng được giới thiệu. Tuy vậy, khi họ hỏi chúng tôi mở shop ở đâu, bán các hàng ấy ở đâu thì câu trả lời vẫn là... "Chưa có!". Bởi vì chúng ta chưa kết hợp được văn hoá và kinh tế, và đây là một thực trạng cũng rất đáng buồn ở Việt Nam. Một thí dụ khác: chỉ cần truyền hình chiếu vài bộ phim Hàn Quốc là mãi lực hàng may mặc thời trang và mỹ phẩm của Hàn Quốc tăng lên gấp 5 lần ở Việt Nam. Điều đó cho phép rút ra một bài học: cần bảo vệ hàng Việt Nam bằng cả con đường văn hoá, đồng thời sản phẩm của ta trên thị trường cũng phải có chất lượng tốt, giá rẻ. Nghĩa là người làm kinh tế phải phối hợp rất chặt chẽ với người làm văn hoá để "người Việt Nam dùng hàng Việt Nam". Hiện nay, dường như những cố gắng về mặt này của chúng ta còn quá ít, thậm chí chỉ mới dừng lại ở mặt... ý tưởng!".

    Theo bà Minh Hạnh, ngành thiết kế thời trang có một hiệu quả kinh tế lớn, và ảnh hưởng xã hội của ngành này cũng rất lớn, do đó cần có sự phối hợp chặt chẽ của cả các nhà kinh tế và các nhà văn hoá để xây dựng một chiến lược phát triển đúng đắn.

    Đặc biệt, phải đầu tư đến nơi đến chốn để có đội ngũ thiết kế thời trang được đào tạo chính quy: "Không thể đào tạo theo kiểu mời những người nổi tiếng đến giảng một khoá vài tháng, mà phải có giáo trình được nghiên cứu rất cụ thể, phù hợp với tình hình hiện nay của Việt Nam. Hơn nữa, cần có hệ thống đào tạo và văn bằng thích hợp cho ngành thiết kế thời trang trong hệ thống đào tạo của Bộ Giáo Dục - Đào Tạo (GD-ĐT) như các ngành nghề Mỹ thuật, Kiến trúc, Trang trí nội thất... Nói cách khác, cần có sự nhận thức ngay từ Bộ GD-ĐT rằng đây cũng là một ngành nghề thực sự cần, cần đến mức bức bách!".

    Như vậy, nếu muốn hình thành ngành công nghiệp thời trang vốn đòi hỏi phải giải quyết một cách hệ thống nhiều vấn đề ở cả phạm vi quốc gia, liệu ngành dệt may TP.HCM có phải dài cổ chờ câu trả lời... "Bao giờ, Việt Nam"?

    Thống nhất về yêu cầu phải xây dựng một hệ thống đào tạo "có bài bản, gần gũi với nền sản xuất và phục vụ cho sản xuất", song bà Quách Tố Dung cho biết chiến lược phát triển ngành dệt may TP.HCM đến năm 2005 đã đề xuất với UBND TP.HCM các nhóm giải pháp cụ thể, trong đó có nhóm giải pháp kiến nghị với Chính Phủ.

    Trong khi chờ đợi, dự kiến sẽ tổ chức tại TP.HCM các chương trình xây dựng những nhóm nghiên cứu thiết kế thời trang trong từng đơn vị; và hình thành các câu lạc bộ thời trang nhằm tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp, gắn ngành dệt may với ngành công nghiệp thời trang. Mặt khác, theo bà Tố Dung, cần tăng cường kinh phí và nhân lực để phát triển thư viện thời trang của Hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM thành một cơ sở nghiên cứu, đào tạo, thông tin và dự báo, thử nghiệm về thời trang ứng dụng CNTT trong tạo mẫu cho các doanh nghiệp may xuất khẩu lẫn may nội địa...

    Nhà tạo mẫu Minh Hạnh
    Ở các nước phát triển, người ta thường không tập trung vào khâu sản xuất mà chỉ tập trung vào thiết kế tạo mẫu. Phần sản xuất, họ tống sang các nước nghèo như Việt Nam. Trong khi đó, tại các nước đang phát triển thường chỉ có sản xuất mà chưa có phần thiết kế, hoặc nếu có thì cũng còn quá "sơ khai", hoàn toàn tự phát và cũng chưa có tính hệ thống, chưa được quy hoạch trong chiến lược phát triển ngành nghề. Từ "khai thiên lập địa" cho đến nay, Việt Nam thật ra vẫn chưa có ngành thiết kế thời trang. Sự xuất hiện các nhà tạo mẫu thời trang là hoàn toàn tự phát. Đã tới lúc phải hình thành hệ thống đào tạo chính quy về thiết kế thời trang, đồng thời Nhà Nước cần cấp học bổng cho các bạn trẻ có tài năng ra nước ngoài học về ngành này để trở về nước làm hạt nhân cho ngành công nghiệp thời trang Việt Nam.

    Hữu Thiện

    ID: B0207_32