• Thứ Hai, 05/04/2004 15:57 (GMT+7)

    Tin học hóa tại các bệnh viện: cần một hướng đi hiệu quả

    Việt Nam hiện có hơn 800 bệnh viện (BV), phần lớn trong số đó đã đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào ứng dụng, nhỏ thì quản lý hồ sơ bệnh án, hạch toán kế toán, lớn hơn thì phục vụ quản lý và chẩn đoán bệnh. Tuy nhiên, số BV đạt hiệu quả tin học hóa lại rất hiếm hoi. 

    Phát triển tự phát

    Từ những năm 1990, trước khi Bộ Y Tế có định hướng ứng dụng CNTT, nhiều BV lớn đã sớm đưa CNTT vào công tác quản lý. Năm 1998, Sở Y Tế TP.HCM còn cấp miễn phí và triển khai đại trà phần mềm (PM) Quản lý bệnh án nhằm thống nhất CSDL lưu trữ hồ sơ bệnh án và các số liệu báo cáo. Tuy nhiên, một khảo sát tại các BV phía Nam mới đây cho thấy: mức độ đầu tư, ứng dụng CNTT giữa các BV rất khác nhau, nếu không nói là chênh lệch lớn. Chẳng hạn 5/43 BV được khảo sát chưa triển khai ứng dụng nào, 38 BV còn lại có quan tâm ứng dụng nhưng với mức độ giảm dần.

    Để thay đổi các PM đã ứng dụng tại các BV, nếu có, sẽ rất phức tạp vì các BV đều đang dùng phổ biến hệ quản trị cơ sở dữ liệu đã lạc hậu (Foxpro); một số khác lại đang sử dụng không nhất quán 2-3 loại (Access, SQL-Server và Oracle).

    Tìm tiếng nói chung

    Theo ông Vũ Mạnh Tiến, trưởng ban Công Nghệ Phần Mềm, Trung Tâm Tin Học, Bộ Y Tế, ứng dụng CNTT trong y tế trên thế giới đang tiến bộ chóng mặt do sự hiện hữu của các thiết bị y tế chuyên dùng số hóa và thiết bị cầm tay (PDA, Mobile phone...) trong chăm sóc bệnh nhân. Còn hệ thống quản lý tại các BV không chỉ đơn thuần để quản lý thông tin mà còn trao đổi thông tin phục vụ người bệnh như tự dộng lên lịch hẹn (scheduling system), cho thanh toán bằng thẻ tín dụng... Trong khi đó, chưa có BV nào tại Việt Nam xây dựng các phân hệ này.

    Ứng dụng CNTT tại các BV mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào ngành Y tế xây dựng định hướng phát triển chung như thế nào. Hiện các BV tại VN đều e ngại triển khai bệnh án điện tử vì quy định của Bộ đến nay vẫn là "sử dụng bệnh án viết tay".

    Tuy nhiên, nếu chỉ có người làm tin học đơn độc triển khai mà thiếu quan tâm từ lãnh đạo BV, ứng dụng chắc chắn sẽ thất bại. Kinh nghiệm tại BV Phụ Sản (Hà Nội) cho thấy, để tin học hóa tốt, trong thời gian triển khai Ban giám đốc phải họp 2 lần/tuần với các quản lý, chuyên viên tin học và cả nhân viên nhập liệu giải quyết vướng mắc. Các BV An Giang, BV Chợ Rẫy cũng tương tự

    Nhưng nếu chỉ riêng ngành y tế đơn thương độc mã tin học hóa mà thiếu sự ủng hộ của các cơ quan hàng ngang, hiệu quả sẽ không cao. Chẳng hạn để quản lý mã bệnh nhân, ngành y tế cần phải thống nhất mã bệnh nhân với mã bảo hiểm y tế, mã bảo hiểm xã hội, nếu không sẽ chồng chéo mã và gây phiền toái cho bệnh nhân. Nhưng xem ra sự thống nhất này đến nay vẫn là bài toán nan giải!

    Ông Cao Xuân Phương, Sở Y Tế TP.HCM, cho biết: việc Bộ Y Tế đưa ra định hướng ứng dụng CNTT trong quản lý BV giai đoạn 2001-2005, đồng thời quy định dùng chung PM quản lý y tế tuyến quận, huyện là một định hướng đúng đắn. Theo ông, mục tiêu trước mắt của y tế TP.HCM đến năm 2005 nên là: tất cả BV đều triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý BV ở mức tối thiểu, với các chức năng: quản lý công tác khám chữa bệnh, quản lý dược và viện phí.  Tiếp đó sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý chung của ngành như tự động truyền báo cáo định kỳ về sở, về bộ (nếu có quy định).

    Còn theo bác sỹ Lê Thành Ni, BV Chợ Rẫy, CNTT trong y tế ở Việt Nam mới tiếp cận mức độ quản lý. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu các ứng dụng mang tính nhân bản hơn như trí tuệ nhân tạo phục vụ sức khỏe con người, bên cạnh đó là tìm một tiếng nói chung trong xây dựng chính phủ điện tử.

    Tường Vy

     

    ID: B0404_31