• Thứ Ba, 06/07/2004 21:03 (GMT+7)

    Điện lực Việt Nam: Phục vụ khách hàng tốt hơn nhờ CNTT

    Điện lực là một ngành kinh tế lớn, việc sản xuất, kinh doanh gắn liền với lãnh thổ, trải rộng trên cả nước, nên nhu cầu ứng dụng CNTT vô cùng đa dạng. Đây chính là thị trường nội địa tiềm năng dành cho các nhà cung cấp giải pháp CNTT.

    Điện lực là một ngành kinh tế lớn, việc sản xuất, kinh doanh gắn liền với lãnh thổ, trải rộng trên cả nước, nên nhu cầu ứng dụng CNTT vô cùng đa dạng. Đây chính là tiềm năng thị trường nội địa dành cho các nhà cung cấp giải pháp CNTT. Những năm qua, Tổng Công Ty Điện Lực Việt Nam (EVN) là một trong số ít những đơn vị đã sử dụng khá hiệu quả công cụ CNTT trong nhiều lĩnh vực, song vẫn còn không ít mảng trống đầy hứa hẹn cho các doanh nghiệp phần mềm (DNPM). Chỉ tính riêng nhu cầu ứng dụng kỹ thuật GIS để kiểm soát và điều tiết mạng lưới đường dây cao thế cùng các trạm hạ áp ở 64 tỉnh thành đã là mảng thị trường lớn.

    Bài viết dưới đây giới thiệu một số ứng dụng CNTT ở hai công ty điện lực (ĐL) tại hai thành phố lớn - Hà nội và TP. HCM - và chỉ gói gọn trong lĩnh vực phục vụ khách hàng (KH), một lĩnh vực nhạy cảm, thiết thực nhất mà thôi.

    Điện lực Hà Nội

    So với nhiều tỉnh thành khác, chỉ riêng hoạt động thu tiền điện tại nhà, giúp KH không phải chầu chực tại các quầy ĐL mỗi tháng, đã cho thấy KH dùng điện của Hà Nội là những thượng đế được ưu ái nhất trong khâu phục vụ. Tuy nhiên, đó chỉ là một trong những chính sách hỗ trợ KH thuần túy mà ĐL Hà Nội thực hiện từ mấy chục năm nay. Ngày nay, nhờ chú trọng đầu tư cho CNTT, công ty Điện Lực Hà Nội (ĐLHN) đã được đánh giá là điểm sáng ứng dụng CNTT với nhiều sáng kiến nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong công tác phục vụ và phát triển KH mới. Nổi bật trong đó là hệ thống hỗ trợ KH qua mạng thông tin điện tử.

    Trên cơ sở một hạ tầng mạng khá mạnh gồm các mạng LAN tại trụ sở công ty và 12 ĐL khu vực cùng một mạng WAN nối toàn công ty, năm 2002, ĐLHN đã bắt tay vào xây dựng hệ thống thông tin điện tử phục vụ khách hàng.

    Điểm nổi bật của hệ thống thông tin điện tử phục vụ khách hàng là hệ thống tổng đài phục vụ bằng một số điện thoại duy nhất là 992000. Hệ thống này đã được nhóm nghiên cứu và phát triển phần mềm của công ty thiết kế xây dựng. Tổng đài có chức năng tiếp nhận thống nhất các thông tin báo sửa điện, giải đáp và xử lý các thông tin mà khách hàng yêu cầu trong lĩnh vực cung ứng điện thông qua một số điện thoại. Ông Nguyễn Mạnh Tuấn, giám đốc Trung Tâm KHCN và Máy Tính, ĐLHN, cho biết, hệ thống gồm 3 module chính:

    Module tiếp nhận thông tin: có chức năng tiếp nhận thông tin báo sửa điện qua điện thoại và tự động cập nhật trên trang web nội bộ của công ty (được nối với tất cả các điện lực khu vực) về địa chỉ nơi báo sửa điện, tình trạng điện, nguyên nhân và ngày giờ thông báo.

    Module xử lý thông tin: ĐL khu vực tại các quận, huyện thông qua module nhận và xử lý sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể để quyết định việc xử lý thông tin và truyền kết quả sửa chữa về tổng đài.



    Ông Nguyễn Mạnh Tuấn, giám đốc Trung Tâm KHCN và Máy Tính, công ty Điện Lực HN

    Module giám sát quản lý thông tin: lãnh đạo công ty và bộ phận quản lý tổng đài nắm được các thông tin báo sửa cũng như tình hình xử lý sự cố của các ĐL khu vực, thống kê số lượng các báo sửa trong ngày...

    Kể từ tháng 8/2003, hệ thống đã chuyển sang dùng công nghệ web, dữ liệu được tập trung tại máy chủ của tổng đài, các máy trạm sử dụng trình duyệt Web Browser để truy cập hệ thống.   

    Hệ thống tổng đài 992000 đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ KH, giúp ĐLHN khắc phục được tình trạng chậm trễ và quan liêu trong khâu khắc phục sự cố vốn luôn bị KH phàn nàn. Ngoài ra, hệ thống còn hỗ trợ công tác quản lý, giúp lãnh đạo công ty giám sát chặt chẽ quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin hỗ trợ KH tại bất kỳ ĐL nào trong hệ thống, từ đó có thể thống kê về chất lượng đường điện, tinh thần phục vụ KH và kịp thời có hướng xử lý với những tình huống bất thường.


    Tra cứu hóa đơn tiền điện trên website của công ty Điện Lực Hà Nội

    Cùng với tổng đài hỗ trợ, từ tháng 7/2003, ĐLHN đã chính thức đưa Website http://www.hanoipc.evn.com.vn vào phục vụ. Không đơn thuần là một trang thông tin về hoạt động của công ty, ĐL HN đã cố gắng đẩy thêm các dịch vụ gia tăng nhằm phục vụ KH trên website này. Cụ thể, qua website, KH có thể tra cứu tiền điện hàng tháng (thông qua mã số KH ghi trên hóa đơn), đăng ký gửi hóa đơn tiền điện qua e-mail, tra cứu các văn bản liên quan về cung ứng và sử dụng điện, hướng dẫn KH lắp đặt công tơ điện 1 pha và 3 pha. Kể từ khi khai trương đến nay qua website này đã có hơn 30.000 lượt KH truy cập để xem thông tin và tra cứu tiền điện, hàng ngàn KH đăng ký sử dụng dịch vụ nhận hóa đơn tiền điện qua e-mail. Để làm được điều này, công ty đã xây dựng một chương trình quản lý giúp vừa in hóa đơn, vừa đẩy thông tin lên web phục vụ tra cứu đồng thời tự động gửi hóa đơn qua e-mail cho KH có yêu cầu. Thời gian cho chu trình truyền thông tin chỉ là 1 ngày sau khi có thông tin ghi chỉ số điện.

    Trong thời gian tới, ĐLHN sẽ kết hợp với một ngân hàng triển khai thanh toán hóa đơn tiền điện qua mạng thanh toán điện  tử và thông báo tiền điện qua hệ thống nhắn tin SMS.

    Với phương châm 'luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu về điện của mọi KH với chất lượng cao và dịch vụ hoàn hảo', ĐLHN đã phát huy những khả năng của CNTT để cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ KH.

    Điện lực TP.HCM

    Nếu như năm 1995, lượng KH của công ty ĐL TP.HCM chỉ là 600-700 ngàn (tính trên đầu hóa đơn) thì đến năm 2003 đã là 1,2 triệu KH, tăng mỗi năm khoảng 100.000. Với 13 ĐL khu vực, mỗi ĐL chỉ có 4 cửa phục vụ, các điểm thu tiền điện của TP.HCM luôn trong tình trạng quá tải do phải tiếp trung bình mỗi ngày từ 600 - 1.000 KH, có nơi đến 1.500 lượt. Thách thức đặt ra với ĐL TP.HCM là phải làm sao ứng dụng CNTT hiệu quả nhằm mang lại sự tiện lợi nhất cho KH.

    Năm 1997-1998, ĐL TP.HCM đã mạnh dạn thí điểm hệ thống xếp hàng tự động (QMS). Với hệ thống này, mỗi KH đến đóng tiền được nhận một số thứ tự, hệ thống tự động xếp số của khách vào quầy trống và thông báo khi đến lượt. Kết quả, dù đông khách, các quầy thu tiền vẫn trật tự, tránh được cảnh lộn xộn. Nhận thấy những ích lợi mà hệ thống mang lại, ĐL TP.HCM đã tích cực nhân rộng mô hình, đến nay đã có 12/13 ĐL khu vực trang bị hệ thống QMS, chi phí cho mỗi hệ thống này khoảng 10.000 USD. Tại ĐL khu vực, hệ thống QMS gồm 10 máy tính dùng hệ điều hành Windows 2000, hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL server, trong đó có 1 máy chủ, 1 máy quản lý số QMS, 1 máy cấp phát số, 2 máy quản lý tìm hóa đơn, 4 máy gọi đóng tiền theo số thứ tự ứng với 4 quầy và 1 máy báo cáo kết quả thu tiền trong ngày, lưu dữ liệu và chuyển qua ngày mới.



    Thông báo tiền điện ngay cho khách hàng nhờ có máy in và máy tính cầm tay(TP.HCM)

    Một trong những đặc điểm của TP.HCM là địa bàn dân cư rộng, số khách hàng đông. Người dân thành phố thường không có mặt tại nhà lúc nhân viên đến thu tiền điện theo định kỳ nên phải đóng tiền tại các quầy thu tiền của ĐL. Một bất tiện đã nảy sinh: quầy thu tiền của ĐL nơi khách hàng cư trú lại ở quá xa nơi làm việc. Lúc ấy, bài toán 'làm sao để KH có thể đến trả tiền điện tại bất kỳ ĐL khu vực nào' được đặt ra, và lời giải là 'hệ thống thu hộ tiền điện' mà ĐL TP.HCM là nơi đầu tiên tiến hành.

    Sau  6 tháng bắt tay thử nghiệm, đầu năm 2002 hệ thống thu hộ tiền điện đã được áp dụng trong toàn công ty. Để làm được việc này, trước đó, ĐL TP.HCM đã đầu tư xây dựng mạng máy tính nối thông suốt từ Trung Tâm Máy Tính đến các ĐL, cấu trúc lại các CSDL về KH, PM truy xuất nợ, xoá nợ, báo cáo thống kê. Đến nay công ty có được mạng WAN kết nối trên hệ thống điện thoại hữu tuyến, một CSDL về KH tập trung trên nền SQL server, ngôn ngữ Visual Basic 6.0 với tần suất đồng bộ 1 lần/ngày tại các chi nhánh. Nhờ hệ thống này, năm 2002, ĐL đã thu hộ cho 23.813 hóa đơn, năm 2003 là 58.433, góp phần đem lại sự thuận tiện nhất cho KH.


    Ông Phạm Đình Lộc-Giám đốc Trung Tâm Máy Tính công ty điện lực TP.HCM

    Quan tâm tới các nhu cầu của KH, ĐL TP.HCM cũng không quên đầu tư công nghệ mới cho công tác ghi chỉ số điện kế. Đến nay, ĐL TP.HCM đã trang bị hơn 400 máy tính cầm tay (handheld computer - HHC) và hơn 400 máy in cầm tay cho mỗi nhân viên ghi điện để ghi chỉ số và thông báo điện năng tiêu thụ, tiền điện cho KH. Thuận lợi nhờ áp dụng công nghệ mới này không nhỏ: với ĐL, thời gian từ khi ghi chỉ số đến khi in hóa đơn được rút ngắn, thu tiền sớm hơn và giảm ngày tồn nợ; tránh được sai sót trong việc nhập lại số liệu vào máy tính (số liệu trong HHC mỗi ngày sẽ được truyền vào máy tính của hệ thống); KH hài lòng vì sớm biết được điện năng tiêu thụ, số tiền phải trả trong kỳ.

    Trả lời câu hỏi 'Vì sao CNTT phát huy tốt hiệu quả tại ĐL TP.HCM ?', giám đốc Trung Tâm Máy Tính công ty ĐL TP.HCM Phạm Đình Lộc, khẳng định: nhờ  được sự quan tâm của cấp lãnh đạo. Tin học hoá chỉ trở thành hiện thực khi phù hợp thực tế và được lãnh đạo quyết tâm thực hiện. Thiếu quyết tâm ấy, mọi dự án CNTT sẽ mãi mãi là dự án!

    Chiến lược phát triển PM dùng chung tại EVN

    Đến thời điểm này, EVN đang là tổng công ty có số tài sản lớn nhất Việt Nam với giá trị trên 83.000 tỷ đồng. EVN có nhiều nhà máy điện trị giá gần 10.000 tỷ đồng với mức độ tự động hóa cao. EVN đang sở hữu một cơ sở hạ tầng CNTT khá mạnh trị giá trên 500 tỷ đồng và sử dụng khá hiệu quả công cụ CNTT phục vụ điều hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, với suy nghĩ CNTT chỉ mang đến sức mạnh khi tìm được tiếng nói chung trong một thể ứng dụng thống nhất, từ năm 2000, EVN đã đề ra chiến lược áp dụng phần mềm (PM) dùng chung trong toàn tổng công ty, với mục tiêu trước mắt, đến hết năm 2004 sẽ thống nhất cơ bản 2 hệ thống: PM quản lý KH và PM quản lý tài chính kế toán.


    Quang cảnh Điện Lực Sài Gòn

    Đây được coi là một trong những mục tiêu quan trọng của EVN bên cạnh những mục tiêu phát triển hệ thống viễn thông và các dịch vụ. Theo ông Nguyễn Minh Khiêm, phó giám đốc Trung Tâm CNTT của EVN thì đây là một chương trình phát triển lâu dài và khó, do vậy mỗi dự án sẽ được phân ra thành các module nhỏ. Tùy theo mức độ phù hợp và tình hình cung cấp trên thị trường (với các sản phẩm tương tự đã có), tổng công ty sẽ xem xét khả năng tự thực hiện hay hợp tác với các công ty tin học.

    Theo ông Khiêm thì thị trường ứng dụng trong ngành điện lực khá rộng, một số bài toán ngành điện lực đang có nhu cầu như: giải pháp ERP, giải pháp quản lý lưới điện, thư viện... Trong điều kiện đó, nếu các công ty tin học Việt Nam quan tâm thì đây thực sự là một mảnh đất tiềm năng. Tuy nhiên, ông Khiêm cũng lưu ý, với những đặc thù của ngành điện và những yêu cầu nghiệp vụ chằng chịt, việc hiểu để xây dựng các chương trình ứng dụng phục vụ ngành chắc chắn sẽ khó khăn và đòi hỏi sự kiên trì. Đó là chưa kể việc đầu tư có thể mạo hiểm nếu sản phẩm không đáp ứng yêu cầu. Do vậy, trước mắt các PM ứng dụng mang đặc điểm chung như thư viện, quản lý văn thư có thể sẽ dễ thâm nhập hơn.

    Các DNPM trong nước hãy thử định hướng và cùng thử sức thâm nhập sâu hơn vào thị trường ngành điện lực.

    Hai ý tưởng cho ngành điện từ giải 'Khoa học sinh viên - Eureka' TP.HCM 2003



    Nhóm tác giả ĐH Sư Phạm(giải khuyến khích) tại lễ trao giải Eureka, 7/3/2004

    Đó là 'Giám sát, điều khiển thiết bị điện qua đường dây tải điện' của tác giả Nguyễn Đức Quý, ĐH Bách Khoa (giải ba) và 'Hệ thống tự động báo chỉ số điện năng từ xa thông qua mạng điện thoại' của 3 sinh viên ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật (giải khuyến khích). Giải Khoa học Sinh viên - Eureka do Thành Đoàn và ĐH Quốc gia TP.HCM phối hợp tổ chức hàng năm, nhằm khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học. Để biết thêm nội dung các công trình đạt giải, có thể liên hệ với Trung Tâm Phát Triển Khoa Học và Công Nghệ Trẻ, 1 Phạm Ngọc Thạch, Q.1, TP.HCM, ĐT: 8234998.







    Thu Hiền - Bích Ty

    ID: B0404_28