• Thứ Sáu, 29/10/2004 14:36 (GMT+7)

    Để tránh quá tải dữ liệu

    Khối lượng dữ liệu ngày càng lớn lên sẽ làm cho kho chứa dữ liệu của doanh nghiệp đầy tràn. Mặc dù hệ thống lưu trữ hiện tại đang làm việc tốt nhưng chúng ta không thể không tính đến một giải pháp lâu dài.

    Khối lượng dữ liệu ngày càng lớn lên sẽ làm cho kho chứa dữ liệu của doanh nghiệp đầy tràn. Mặc dù hệ thống lưu trữ hiện tại đang làm việc tốt nhưng chúng ta không thể không tính đến một giải pháp lâu dài.

    Khi đứng trước bài toán về lưu trữ, với vai trò là nhà quản trị, chúng ta nên đặt ra một số câu hỏi kiểm chứng sự phù hợp của hệ thống lưu trữ với yêu cầu ứng dụng của tổ chức - doanh nghiệp (DN):

    . Hệ thống có bảo vệ dữ liệu của tổ chức khỏi những rủi ro? Nếu xảy ra rủi ro, liệu nó có phục hồi được không và phải mất bao nhiêu thời gian?

    . Hệ thống có được sao lưu thường xuyên không?

    . Nếu gia tăng khối lượng dữ liệu, hệ thống lưu trữ liệu có gây khó khăn cho việc quản trị?

    . Tốc độ truy xuất dữ liệu có đáp ứng được yêu cầu về thời gian?

    . Liệu có khó khăn gì trong việc tăng dung lượng đĩa hoặc chuyển dữ liệu giữa các server không?

    Như bài viết trước ("Lưu trữ thông tin: Bước khởi động tại VN", TGVT-PCW B 9/2004) đã giới thiệu, có rất nhiều giải pháp và công nghệ lưu trữ khác nhau để người dùng lựa chọn. Sự thực, mỗi một công nghệ lưu trữ lại có những ưu và nhược nhất định.

    DAS

    DAS (Direct attached storage)
    dùng để chỉ cơ chế lưu trữ với thiết bị gắn trực tiếp vào máy chủ. Đây được coi là công nghệ lưu trữ truyền thống được nhiều DN sử dụng. Với cơ chế DAS, mỗi máy chủ sẽ có một hệ thống lưu trữ và phần mềm quản lý lưu trữ riêng biệt. Ưu điểm của giải pháp DAS là khả năng dễ lắp đặt, chi phí thấp, hiệu năng cao. Tuy nhiên, nhược điểm của DAS là khả năng mở rộng hạn chế. Thực tế DAS làm việc rất tốt với một server nhưng khi dữ liệu tăng, số lượng máy chủ cũng tăng sẽ tạo nên những vùng dữ liệu phân tán và gián đoạn. Khi đó, nhà quản trị sẽ phải bổ sung hay thiết lập lại dung lượng, và công việc bảo trì sẽ phải thực hiện trên từng server. Điều đó sẽ làm tăng chi phí lưu trữ tổng thể cho DN và sẽ càng khó khăn hơn khi bạn muốn sao lưu hay bảo vệ một hệ thống kho lưu trữ dữ liệu đang nằm rải rác và phân tán như vậy.

    Lưu trữ mạng

    Lưu trữ mạng được đưa ra nhằm giải quyết các giới hạn của DAS. Với kiểu lưu trữ này, việc lưu trữ được tách ra khỏi server, hợp nhất trong mạng, tạo ra một khu vực truy cập rộng cho các server, cho người sử dụng và cho các ứng dụng truy xuất hay trao đổi. Nó tạo nên sự mềm dẻo và năng động. Việc quản trị và bảo vệ dữ liệu sẽ trở nên đơn giản, độ tiện lợi sẽ cao hơn, chi phí tổng thể sẽ nhỏ hơn. Có 2 kiểu chính về lưu trữ mạng:

    NAS (Network Attached Storage) là phương pháp lưu trữ dữ liệu sử dụng các thiết bị lưu trữ đặc biệt gắn trực tiếp vào mạng LAN như một thiết bị mạng bình thường (tương tự máy tính, switch hay router). Các thiết bị NAS cũng được gán các địa chỉ IP cố định và được người dùng truy nhập thông qua sự điều khiển của máy chủ. Trong một số trường hợp, NAS có thể được truy cập trực tiếp không cần có sự quản lý của máy chủ. NAS cung cấp khả năng chia sẻ tài nguyên lưu trữ cho nhiều người dùng đồng thời. Bên cạnh đó, NAS cho phép thực hiện mở rộng về dung lượng lưu trữ khi nhu cầu sử dụng tăng cao.

    SAN (Storage Area Network) là một mạng riêng tốc độ cao dùng cho việc truyền dữ liệu giữa các máy chủ tham gia vào hệ thống lưu trữ cũng như giữa các thiết bị lưu trữ với nhau. SAN cho phép thực hiện quản lý tập trung và cung cấp khả năng chia sẻ dữ liệu và tài nguyên lưu trữ. Hầu hết mạng SAN hiện nay dựa trên công nghệ kênh cáp quang, cung cấp cho người sử dụng khả năng mở rộng, hiệu năng và tính sẵn sàng cao. SAN đặc biệt thích hợp với các ứng dụng cần tới tốc độ và độ trễ nhỏ ví dụ như ứng dụng xử lý giao dịch trong ngành ngân hàng, tài chính. Tuy nhiên, nhược điểm của SAN là chi phí đầu tư ban đầu cao hơn so với hai giải pháp DAS và NAS.

    Và lựa chọn phù hợp

    Cho đến thời điểm này, nhu cầu sử dụng các giải pháp DAS, NAS, SAN đang dần có sự thay đổi. Trước kia, DAS là giải pháp lưu trữ sử dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay đang chuyển dần sang NAS và SAN khiến thị trường DAS bị thu hẹp lại.

    Theo điều tra mới đây của Meta Group Inc., 45% các giám đốc CNTT được hỏi cho biết họ sẽ tăng đầu tư cho hệ thống SAN. Trong đó mức đầu tư tương ứng cho các giải pháp NAS và DAS là 37% và 20%. Cũng theo điều tra của McKinsey & Company, mặc dù chi phí đầu tư ban đầu của NAS và SAN cao hơn so với DAS nhưng chi phí tính trên một đơn vị dữ liệu của hai giải pháp này lại nhỏ hơn nhiều so với trường hợp dùng DAS. Nếu tính chi phí sở hữu và duy trì khả năng hoạt động cho 2 tetra byte dữ liệu trong ba năm, giải pháp NAS và SAN cho các giá trị tương ứng là 0,35 USD và 0,37 USD, trong khi giải pháp DAS yêu cầu 0,9 USD (tính trên 1 MB dữ liệu).

    Theo lời khuyên của một chuyên gia về tích hợp hệ thống, mỗi DN khi triển khai hệ thống lưu trữ cần chú ý các yêu cầu:

    . Trước tiên DN phải xem xét quá trình hoạt động của đối tác cung cấp dịch vụ lưu trữ để đảm bảo họ là đối tác lâu dài và DN sẽ được hỗ trợ nhiều hơn về phần cứng cũng như phần mềm.

    . Hệ thống đó sẽ phải đáp ứng yêu cầu mạng diện rộng của DN hiện tại và trong tương lai.

    . Hệ thống có độ sẵn sàng và khả năng thực thi ứng dụng cao.

    . Giải pháp có thể mở rộng phát triển một cách liên tục mà vẫn đảm bảo đầu tư đối với các DN vừa và nhỏ, ít vốn.

    . Giải pháp hoàn thiện và có hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp.

    . Dễ triển khai và quản trị. Phần mềm quản lý trung tâm sẽ làm đơn giản hoá công tác quản trị và giảm được các chi phí vận hành.

    . Chi phí hợp lý.

    Tường Vy - Nguyên Khuê

    ID: B0410_32